Theo báo cáo của Sở kế  hoạch và Đầu tư, mặc dù chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới, nhưng trong 6 tháng đầu năm 2009, thành phố cũng đã có12 dự án FDI được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đầu tư được cấp là 152,072 triệu USD. Như vậy, đến nay, thành phố Đà Nẵng đã có 157 dự án đầu tư  trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đầu tư là 2,6 tỷ USD, trong đó tổng vốn thực hiện ước đạt 1,04 tỷ USD. Trong 157 dự án còn hiệu lực, có 95  doanh nghiệp đã đi vào hoạt động với doanh thu 6 tháng đầu năm 2009 ước đạt 98 triệu USD, tăng 4% so cùng kỳ năm  2008.

 

Nhìn chung, hoạt động sản xuất  kinh doanh của các doanh nghiệp FDI tương đối ổn định, giá trị sản xuất công  nghiệp của các doanh nghiệp FDI chiếm từ 33-34% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu hàng năm chiếm bình quân 31-32% so với tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thành phố và đạt khoảng 10%-12% tổng thu ngân sách của thành phố. Doanh nghiệp FDI góp phần đổi  mới công nghệ, phát triển thị trường, đổi mới sản phẩm, phát triển các ngành  công nghiệp chế biến, nhất là công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu có giá trị gia  tăng cao, tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và  quốc tế. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này cũng đã giải quyết việc làm cho khoảng 34.000 người, giảm 1.000 lao  động so với cuối năm 2008.

Mặc dù vậy, trên thực tế, còn không ít khó khăn khiến các nhà đầu tư e ngại như: Chi phí vận tải hàng hóa đi từ cảng Đà Nẵng vẫn còn cao  hơn so với xuất hàng đi từ các cảng ở TP Hồ Chí Minh và Hải Phòng, doanh nghiệp  phải tốn phí trung chuyển làm tăng giá thành sản phẩm, giảm cạnh  tranh; nguồn cung cấp nguyên phụ liệu, phụ tùng còn rất hạn chế; quy mô thị trường nhỏ, sức mua thấp; lao động tuy dồi dào, trẻ nhưng kỹ năng  lao động không cao, ngoại ngữ yếu, chưa được đào tạo cơ bản… Do vậy, vốn đầu tư đăng ký có tăng lên nhưng việc triển khai  dự án còn chậm, số dự án đầu tư có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ nguồn vào thành phố còn ít. Tình trạng một số nhà đầu tư đăng ký để chiếm giữ vị trí, mặt bằng mà chậm triển khai hoạt động vẫn còn.

Một vấn đề đáng quan tâm nữa là, một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không thực hiện đúng những  quy định của luật pháp về việc sử dụng lao động là người Việt Nam như: kéo dài  thời gian học nghề, không thực hiện đúng chế độ bảo hiểm xã hội, kéo dài thời  gian lao động trong ngày. Trong khi đó, nhiều người lao động không nắm được quy định của pháp luật, cộng thêm việc thiếu các tổ chức công đoàn, đoàn thể nên không bảo vệ được  quyền lợi chính đáng của người lao động..,đó chính là những nguyên nhân chủ yếu  xảy ra các tranh chấp về lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước  ngoài.

Để khắc phục những tồn tại nêu trên, trong thời gian đến thành phố sẽ tiến hành đẩy mạnh vốn giải ngân, giảm khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn  thực hiện, tăng cường cơ chế phối hợp quản lý đầu tư nước ngoài giữa các Sở, ngành liên  quan; đẩy mạnh và nâng cao hiệu  quả công tác thanh tra, kiểm soát sau cấp phép,nhằm hướng dẫn việc thực  hiện đúng pháp luật và ngăn chặn các vi phạm pháp luật. Tiếp tục rà soát các dự án để có hình thức xử lý phù hợp, hỗ trợ dự án nhanh chóng triển khai sau khi  được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Thực hiện việc thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư  đối với các dự án không triển khai đúng tiến độ cam kết để dành quỹ đất cho các dự án mới; phối hợp với các đơn vị, cơ quan theo dõi, giải quyết kịp thời các vấn đề đình công, bãi công của công nhân trong KCN, đặc biệt là trong các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao  động. Đẩy mạnh công tác xúc tiến  đầu tư nhằm thu hút các dự án đầu tư có quy mô lớn, công nghệ cao, công nghệ  nguồn, phù hợp với yêu cầu về đảm bảo công tác bảo vệ môi trường; đẩy mạnh việc phổ biến các cam kết của Việt Nam với WTO cho các doanh nghiệp FDI, đặc biệt các doanh nghiệp  phân phối, nhất là việc lập cơ sở kinh doanh thứ 2 sau cơ sở chính, quyền nhập  khẩu, quyền xuất khẩu của doanh nghiệp FDI. 

Ngoài sự nỗ lực, tự thân vận động của thành phố, thành phố cũng kiến nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần có hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các thủ tục đầu tư đối với đối tượng  nhà đầu tư là Việt kiều; có hướng dẫn cụ thể việc xử lý các dự án đầu tư nước ngoài vay vốn từ Ngân  hàng Việt Nam khi “bỏ trốn” hoặc “gạt nợ” và trốn khỏi Việt Nam, hướng  dẫn việc áp dụng Luật phá sản  trong trường hợp này;hỗ trợ  kinh phí xúc tiến đầu tư về cho địa phương để tăng cường năng lực xúc tiến đầu  tư. Bên cạnh đó, khi Bộ tổ chức những hội nghị xúc tiến đầu tư quốc tế, hoăc đi xúc  tiến đầu tư ở các nước thì thông báo trực tiếp cho địa phương tham gia nhằm quảng bá hình ảnh địa phương, tăng cường công tác xúc tiến đầu tư của địa phương  với nhà đầu tư quốc tế.

(Dân Hùng)

(05/09/2009)
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

LƯỢT TRUY CẬP
2813678