ĐÀ NẴNG TIẾP NỐI CUỘC ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
Những cư dân thành phố
Kể từ khi trở thành nhượng địa của thực dân Pháp, với vị thế trọng yếu án ngữ miền Trung, kề bên kinh đô Huế, cùng với hai cuộc khai thác thuộc địa, thành phố Tourane ngày một biến đổi. Không chỉ cảnh quan của Đà Nẵng xưa nay đã 'phố xá nghênh ngang' mà con người sống trên mảnh đất này cũng ngày càng đông đúc (năm 1921: 16000 người; 1936: 25000 người). Một nếp sống đô thị, một cư dân đô thị được hình thành và trở thành nơi thu hút dân các địa phương khác, đặc biệt là các tỉnh miền Trung tới làm ăn sinh sống. Khác với các nơi khác, dân Đà Nẵng giờ đây không phải là công dân Pháp (Citoyen Francais) trừ một số ít dân đã vào làng Tây, cũng không còn là con dân của triều đình nữa mà chỉ là 'thuộc dân Pháp' (Sujet Francais).
Quá trình đô thị hóa tuy có thu hút một số nông dân hay ngư dân nhập vào cuộc sống đô thị theo cái bước đi tất yếu là phân hoá thành kẻ giàu người nghèo, nhưng số đông vẫn sống trong những làng mạc hay vạn chài xen kẽ hay ngoài biên của thành phố nhượng địa. Họ sẽ là nguồn nhân công thường xuyên bổ sung cho sự mở mang những cơ sở kinh tế của thực dân và các giai cấp hữu sản khác. Là 'thuộc dân Pháp' nhưng thân phận của họ là những người lao động bị áp bức bóc lột nặng nề nhất.
Là một thành phố nhượng địa duy nhất ở miền Trung, Đà Nẵng là thành phố được Chính quyền thực dân đầu tư nhiều nhất để biến nó thành một bộ mặt của chế độ chiếm đóng. Thành phố đã thu hút nhiều cư dân ở các vùng lân cận, trước hết là ở Quảng Nam, sau đó đến Huế và Bình Định, Quảng ngãi, cũng có những người từ Thanh - Nghệ, thậm chí từ Hà Nội hay Sài Gòn đến làm ăn. Tuy nhiên những cơ sở thu hút lao động làm thuê không nhiều, ví dụ: Cảng Đà Nẵng năm 1928 chỉ có khoảng 100 công nhân, đến trước Cách mạng tháng Tám tăng lên khoảng 500 công nhân; Hoả xa năm 1913 có 155 công nhân; Nhà đèn năm 1922 có 22 công nhân, 10 năm sau (1932) có 60 công nhân.
Các cơ sở thu hút lao động nông nghiệp tạo ra một đội ngũ công nhân đồn điền đông đảo hơn nhưng nhiều nhất như Hãng Chè Fiard cũng đạt tới 1000 công nhân, còn những hãng như Hãng Denis - Frères và Descourt Cabaud chỉ có 200 công nhân.
Tuy nhiên, con số khoảng 2000 công nhân của thành phố Đà Nẵng trong các cơ sở kinh tế của thực dân phần lớn là lao động đơn giản, công nhân tay nghề cao rất ít. Ví dụ năm 1932, trong số 60 công nhân Nhà đèn chỉ có 2 đến 3 người được đào tạo từ các trường kỹ thuật, hơn một nửa là nông dân và còn lại là dân nghèo thành thị được tuyển mộ. Số đông công nhân lãnh lương công nhật.
Lương công nhật tối thiểu theo ấn định của Toàn quyền Đông Dương năm 1937 là:
Đà Nẵng : đàn ông 20 xu, đàn bà 15 xu và trẻ em 11 xu.
Quảng Nam: đàn ông 13 xu, đàn bà 9 xu và trẻ em 7 xu.
Đó là một mức lương rất thấp, không được bảo hiểm, thường xuyên họ bị sa thải, thất nghiệp, bị chủ buộc làm quá giờ, bị cúp phạt lương v.v...nên công nhân là lớp người nghèo khó bị bóc lột rất nặng nề.
Đời sống đô thị đẻ ra một lớp dân tiểu tư sản khá đông đảo ở Đà Nẵng, gồm nhiều nghề nghiệp khác nhau: các viên chức công sở hay cửa hiệu tư nhân, giáo viên và học sinh; tiểu thương, tiểu chủ và thợ thủ công; những người làm nghề tự do và dịch vụ v.v...
Địa vị của họ trong xã hội bấp bênh, họ là lớp người nhạy cảm nhất với những biến cố chính trị và xã hội, và trở thành lực lượng năng động nhất tiếp nhận những trào lưu tư tưởng mới.
Là một trung tâm kỹ nghệ ở miền Trung, cùng với giới chủ thực dân, ở Đà Nẵng đã hình thành tầng lớp tư sản người Việt gắn liền với sự ra đời của những cơ sở kinh tế như công ty kinh doanh bông vải sợi của Lý Quý, thu mua các loại vải sợi nội địa lưu thông buôn bán trên cả ba kỳ. Các tư sản buôn bán các loại nông sản và lâm thổ sản như Lê Văn Tập, Đốc Thí, Kim Quy..., kinh doanh phương tiện vận tải có công ty Hào Hưng, Phạm Văn Phi; buôn bán đồ sắt có Nghĩa Lợi; nước chấm có Kim Long, các loại sơn có Nguyễn Tấn Hà; tân dược có Phạm Doãn Điền, kinh doanh rạp hát có Vĩnh Lạc...Một số thầu khoán như Nghè Giá, Nghè Phụng, Nghè Mại giàu có nhanh nhờ xây dựng và buôn bán bất động sản. Khi Pháp làm đường xe lửa, Bùi Huy Tín vừa kinh doanh ngành thuỷ nông vừa nhận thầu cung cấp tà vẹt gỗ v.v...
Cần nói thêm đến lực lượng tư sản người Hoa là một lực lượng có thế lực kinh tế ở Đà Nẵng, đặc biệt hoạt động trong lĩnh vực tài chính.
Các tầng lớp tư sản bản địa tạo ra cho bộ mặt của dân đô thị một đời sống thượng lưu nhưng trong cạnh tranh với tư sản nước ngoài, đặc biệt là tư bản Pháp, nó bị hạn chế sự phát triển. Do vậy khi ý thức dân tộc được kích thích, tầng lớp tư sản cũng sẵn sàng ủng hộ phong trào đấu tranh của các lực lượng giải phóng dân tộc và dân chủ tiến bộ.