ĐÀ NẴNG TIẾP NỐI CUỘC ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Đà Nẵng thời Nghĩa hội và Duy Tân

Sau khi đã lập nên chiến công hiển hách, chặn đứng cuộc xâm lăng của liên quân thực dân Pháp và Tây Ban Nha năm 1858-1859, Đà Nẵng càng được triều đình nhà Nguyễn coi là một địa bàn chiến lược quan trọng và tăng cường lực lượng cho công cuộc phòng thủ đất nước vừa trực tiếp là tả kỳ (phía nam kinh đô bao gồm Nam - Ngãi - Bình - Phú - Khánh - Thuận) và đặt tại Quảng Nam một sơn phòng. 

Tuy nhiên, tiếp theo sau sự đầu hàng từng bước của triều đình khi bị giặc gây sức ép ở Bắc và Nam Kỳ, chủ quyền của đất nước cũng dần dần rơi vào tay thực dân Pháp và triều đình tự trở thành tay sai cho quân xâm lược. 

Cho đến triều vua Hàm Nghi, lòng yêu nước khiến cho ông vua này tính đến việc củng cố sơn phòng để tìm kế khôi phục chủ quyền dân tộc. Cùng với Tân Sở (ở Quảng Trị), Nha sơn phòng Quảng Nam được tăng cường. Đầu năm 1885, vua Hàm Nghi cho tải vào sơn phòng này 90 gánh vàng bạc và tích trữ muối gạo chuẩn bị lâu dài. 

Sau sự biến kinh thành (5.7.1885), Kinh đô Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết cùng với các viên quan chủ chiến phò vua Hàm Nghi rút lên Tân Sở (miền núi Quảng Trị) lo xây dựng căn cứ đánh giặc lâu dài và hạ chiếu Cần vương hô hào cả nước ứng nghĩa đánh Pháp. 

Lời hịch Cần Vương nhanh chóng lan ra cả nước, dấy lên một cao trào phò vua Hàm Nghi cứu nước,'nghĩa hội mọc lên như rừng rậm, hịch quân truyền khắp như gió bay' (Huỳnh Thúc Kháng). Ngọn gió Cần Vương vượt qua đèo Hải Vân vào phương Nam lập tức được hưởng ứng mạnh mẽ. Sử triều Nguyễn chép: 'Thân hào Quảng Nam kết nhau làm Nghĩa hội cử chánh sơn phòng Trần Văn Dư làm thư hội' (Đại Nam thực lục). 

Trước đó một năm (7.1884), đốc tiểu sứ Trần Văn Dư đã xin Hàm Nghi củng cố Nha sơn phòng Quảng Nam lúc này đặt tại Dương Hoà (phủ Thăng Bình) để giữ tả kỳ, phên dậu phía Nam của kinh đô Huế. Chỉ ít ngày sau khi chiếu Cần Vương ban bố, Nghĩa hội đầu tiên đã được lập ở Quế Sơn. 

Đồng Khánh được thực dân Pháp dựng lên ra lệnh thuyên chuyển Trần Văn Dư nhưng ông không tuân chỉ, còn kéo quân chiếm giữ sơn phòng và uy hiếp tỉnh thành La Qua (Điện Bàn). 

Phong trào Nghĩa hội dâng cao mà Quảng Nam trở thành hạt nhân tập hợp với 'Quảng Nam tam tỉnh Nghĩa hội' (lời Phan Bội Châu), gắn liền với các tên tuổi như Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Thành, Lê Trung Đình, Phan Bá Phiến, Nguyễn Tự Tân v.v...Nghĩa hội thực sự trở thành ngọn cờ tụ nghĩa thúc giục lời kêu gọi như 'Hịch văn thân Quảng Nam' của Phạm Như Xương đã nêu: 'Người trong nước phải đền nợ nước'. 

Để đối phó, thực dân Pháp và quân của Đồng Khánh thẳng tay đàn áp và mua chuộc. Khâm sứ Pháp ở Huế Deschampeaux điều quân Bắc Phi đánh chiếm lại La Qua, người đứng đầu phong trào Cần Vương là Trần Văn Dư bị địch lừa bắt và hành hình (13.12.1885). 

Nguyễn Duy Hiệu lên thay, chủ trương lập tại Quế Sơn một Tân tỉnh để ứng nghĩa với Tân Sở của Hàm Nghi làm trung tâm tập hợp lực lượng. Thiết lập Tân tỉnh ở Trung Lộc, Quế Sơn, Nguyễn Duy Hiệu mong xây dựng lực lượng chiến đấu lâu dài. 
Một trong những chiến thắng của nghĩa quân diễn ra ở Nam Chơn, tấn công vào đội quân xây dựng con đường chiến lược từ Huế qua đèo Hải Vân tới Đà Nẵng. Xây dựng con đường này, thực dân Pháp không những nhằm vào mục tiêu quân sự mà còn mưu những lợi ích khai thác thuộc địa lâu dài mà Thống chế Lyautey đã xác nhận 'Con đường để thâm nhập buôn bán ở ngày mai' , còn dân gian thì đặt vè. 

'Từ ngày thất thủ kinh đô
Ông Tây giăng dây thép, họa địa đồ nước Nam' 

Do vậy, đích thân Tổng tư lệnh lực lượng quân Pháp ở Bắc và Trung Kỳ De Courcy đã ra lệnh cho tướng Prudhomme điều động công binh và buộc Đồng Khánh phải huy động phu dịch để làm đường. Gần 2000 dân phu Quảng Nam và Thừa Thiên phải chịu nhiều cơ cực để làm con đường này, nhiều dân phu bỏ trốn và bỏ xác vì chế độ lao động khắc nghiệt. 

Từ Tân tỉnh, Nghĩa quân của Nguyễn Duy Hiệu đã tổ chức cuộc tập kích vào đơn vị của đại uý Besson vào đêm ngày 28 tháng 2 rạng ngày 1.3.1886 và lập chiến công lớn, tiêu diệt tại chỗ viên đại úy công binh chỉ huy, 1 trung sĩ công binh và 6 lính thuỷ đánh bộ tại Nam Chơn. 

Chiến thắng của nghĩa quân Nam Ô (Cu Đê) khiến bọn thực dân coi là 'một biến cố đau thương vừa xảy ra ở Trung Kỳ' (điện của Prud Homme ngày 8.3.1886) càng làm cho quân Pháp quyết tiêu diệt nghĩa quân. Trên đất Quảng Nam, chúng lập 36 đồn bốt mới. Kết hợp sức mạnh quân sự và thủ đoạn dụ dỗ, ly gián, lực lượng nghĩa quân dần bị địch hãm vào thế cùng. Nguyễn Duy Hiệu buộc lòng giải giáp lực lượng để chờ cơ hội khác, còn tự mình chấp nhận để giặc lừa bắt và lên đoạn đầu đài với những câu thơ tuyệt mệnh đầy nghĩa khí: 

'Chớ đem thành bại luận anh hùng' 

Thời điểm sôi nổi của phong trào Nghĩa hội thì thành phố Đà Nẵng chưa hình thành. Trung tâm chính trị, kinh tế và xã hội của Quảng Nam vẫn là tỉnh thành La Qua (Điện Bàn) và Hội An nơi Pháp đặt Tòa Công sứ. Và chính trên thế đàn áp được phong trào Nghĩa hội, đặc biệt là sau khi Nguyễn Duy Hiệu mất (1887), thực dân Pháp ép triều đình phải nhượng đất cho chúng, dẫn đến việc vua bù nhìn Đồng Khánh ký sắc dụ cho Pháp lập nhượng địa ở Đà Nẵng (1888).

(Còn tiếp) 

(10/12/2003)
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

LƯỢT TRUY CẬP
2810651