ĐÀ NẴNG TIẾP NỐI CUỘC ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Đà Nẵng thời Nghĩa hội và Duy Tân (tiếp theo)

Bước vào đầu thế kỷ 20, trong lúc thành phố Đà Nẵng đang mở rộng, xuất hiện một xu hướng trong tầng lớp quan lại và trí thức nhà nho muốn cưỡng lại sự bành trướng của chính quyền thực dân nên đưa ra yêu sách đòi Pháp phải thực hiện trở lại Hiệp ước 1884, tức là tôn trọng những quyền hạn của triều đình Huế theo văn bản của hiệp ước này. Liên quan đến Đà Nẵng là việc đòi giới hạn lại lãnh thổ của thành phố như những thỏa thuận ban đầu. Bởi vì văn bản 1888 của Đồng Khánh chỉ giới hạn lãnh thổ của nhượng địa 'Tourane' thu gọn trong địa phận của 8 xã, nhưng đến nay dần bị lấn ra tới 19 xã cả hai bên tả và hữu ngạn sông Hàn. Cuối cùng Toàn quyền Đông Dương Paul Beau phải ký nghị định ngày 15.7.1903 phân cắt một số đất của nhượng địa trả lại cho huyện Hòa Vang của tỉnh Quảng Nam. 

Cũng vào khoảng thời gian này ở Cẩm Đình, Nghi An diễn ra cuộc đấu tranh chống việc cướp đất lập đồn điền của nhân viên sở buôn của thực dân. Việc cướp đất này dựa vào một nghị định ký năm 1899 cho phép cấp các nhàn điền (đất bỏ hoang) ởTrung Kỳ tạo cơ hội cho giới thực dân xây dựng đồn điền. Người chỉ huy cuộc đấu tranh này là Thái Phiên, sau này trở thành yếu nhân của cuộc khởi nghĩa Duy Tân. Một mặt nhân dân sở tại làm đơn kiện đòi đất với chính quyền thực dân, mặt khác tổ chức đấu tranh quyết liệt trên đồng đất. Bọn chủ thực dân cho đào hố trồng cây, lập tức có người được phân công nhảy xuống hố quyết sống chết giành lại đất đai và ''thằng Tây đào lỗ, dây xanh trói liền''. Vụ tranh chấp này kéo dài đến 3 năm buộc thực dân phải trả lại đất đai cho dân. 

Cũng như trên địa bàn cả nước, phong trào vũ trang chống Pháp đã lắng dịu sau những thất bại đẫm máu đàn áp của thực dân, ngay phong trào Yên Thế của Đề Thám ở ngoài Bắc cũng phải buộc vào cuộc hòa hoãn rồi dần dần tan rã. Ở Quảng Nam hình thành một xu hướng mang tính chất tìm tòi một con đường đấu tranh mới để phục hưng dân tộc trên nền tảng nâng cao dân trí, tiếp nhận những trào lưu tư tưởng dân chủ từ bên ngoài. Xây dựng lực lượng chính trị của dân tộc để chuẩn bị cho những cuộc phát triển mới của sự nghiệp giải phóng. Phong trào đó được gọi là Duy Tân mà Quảng Nam thực sự trở thành một điểm khởi phát và một trung tâm sôi nổi hàng đầu của cả nước, và nhiều nhân vật của Quảng Nam đã trở thành yếu nhân của những phong trào yêu nước có ảnh hưởng sâu sắc trên toàn quốc như Tiểu La Nguyễn Thành, người đã từng tham gia Nghĩa hội của Nguyễn Duy Hiệu đã cùng Phan Bội Châu khởi xướng phong trào Đông Du, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp là những người tiên phong cho phong trào Duy Tân và Thái Phiên, Trần Cao Vân trở thành những người chủ xướng cuộc khởi nghĩa gắn liền với tên tuổi của một ông vua yêu nước lấy vương hiệu là Duy Tân. 
Trong hai thập kỷ đầu thế kỷ 20, đất Quảng Nam đã trải qua một phong khí mới trong cuộc đấu tranh chống thực dân xâm lược và giành độc lập dân tộc. Kể cả cuộc chống thuế diễn ra sôi động trên khắp Quảng Nam rồi lan rộng ra nhiều địa phương khác tạo nên một cao trào cách mạng sôi động khiến thực dân phải thẳng tay đàn áp với hàng loạt những yếu nhân bị đày ra Côn Đảo (như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng...), một số lên đoạn lầu đài (như Trần Quý Cáp, Thái Phiên, Trần Cao Vân...). 

Trong cơn lốc của các sự kiện lịch sử diễn ra sôi nổi trên đất Quảng Nam, đặc biệt mạnh mẽ ở Đại Lộc, Điện Bàn,Tam Kỳ..., hoặc tỉnh thành La Qua và Hội An, còn Đà Nẵng vẫn là một thành phố đang hình thành cũng là nơi thực dân trực tiếp kiểm soát rất chặt chẽ, không có những hoạt động sôi nổi, bồng bột. 

Là một hải cảng, nơi giao thông với bên ngoài, điều chắc chắn là những tư tưởng mới qua các tân thư, tân sách từ Trung Quốc, Nhật Bản như tác phẩm của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi...qua cửa khẩu quan trọng này vào Đà Nẵng và cũng từ đây xuất dương nhiều chiến sĩ Đông Du. 

Tài liệu cho biết, Trần Quý Cáp đã được một người đồng chí là Châu Chế (Châu Thành) giới thiệu với một người Nhật đang làm ăn tại Đà Nẵng và nhân vật này đã trở thành nhân mối cho việc đưa những thanh niên Việt Nam tham gia Đông Du.
Cho đến cuộc khởi nghĩa Duy Tân diễn ra trong bối cảnh chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, những người chủ trương trong đó có những yếu nhân người Quảng Nam như Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Thành Tài, Đỗ Tự...còn Đà Nẵng là một địa điểm trọng yếu phải chiếm được để làm cửa ngõ liên hệ với lực lượng của nước Đức. Hơn thế nữa, Đà Nẵng lại là nơi tập kết của hơn một ngàn lính mới tuyển mộ chuẩn bị đưa sang mặt trận châu Âu tham chiến. Chính những người lính tập này là một lực lượng quan trọng mà những người khởi nghĩa hy vọng sẽ giác ngộ được họ tham gia cuộc nổi dậy. Rất nhiều những bài vè được sáng tác và lưu truyền đến ngày nay là bằng chứng của công cuộc vận động đó. Ví dụ: 

'Nước Sông Hàn đời mô cho hết mặn
Rừng Sơn Trà ai đốn cho hết cây
Lời nguyền em đó anh đây,
Biểu anh đừng đi lính cho Tây em phiền.

...Rủ nhau ra tới sông Hàn 
Thấy đang tập lính dư ngàn, dư trăm
Thương chàng thiếp phải ra thăm
Chàng qua nước bên ấy mấy năm chàng về...

Cuộc khởi nghĩa không thành, kế hoạch bị lộ, địch thẳng tay đàn áp, ở Quảng Nam ngoài phủ Tam Kỳ nghĩa quân kịp nổi dậy đánh chiếm phủ đường nhưng rồi cũng không thành, còn ở Đà Nẵng cũng như nhiều nơi khác, cuộc nổi dậy bị bóp chết trong trứng nước. 

Vua Duy Tân bị đày đi đảo Réunion, nhiều yếu nhân bị chém hay bị đày ra Côn Đảo. Cùng bị chém tại An Hòa (Huế) trong ngày 17.5.1916 với Trần Cao Vân còn có một nhân vật mà sau này, vào những ngày đầu Cách mạng thành công, tên tuổi của ông đã được đặt tên cho thành phố Đà Nẵng, đó là Thái Phiên (1882-1916) hiệu Nam Xương, quê làng Nghi An (Hòa Vang), sống và làm viên chức nhỏ ở Đà Nẵng. Chính ông đã lãnh đạo nhân dân chống chủ kho bạc Đà Nẵng là Gravelle cướp đất ở Nghi An làm đồn điền; tháng 5.1905 cùng Tiểu La Nguyễn Thành lập Hội Duy Tân, lo kinh tài cho việc xuất dương của các chiến sĩ Đông Du, tham gia việc hợp lực lượng cho Việt Nam Quang phục Hội ở miền Nam Trung Bộ. Cuộc khởi nghĩa Duy Tân thất bại, ông hy sinh để lại một tấm gương như Phan Bội Châu đã ca ngợi: 

'Chúng ta cũng vẫn giống Hồng Lạc
Xin hỏi Nam Xương có mấy ai ?'

Sau khi đại chiến thế giới lần thứ nhất kết thúc (1914-1918), bước vào thập kỷ 20, thực dân Pháp thực hiện cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2, cũng là thời điểm đô thị Đà Nẵng được mở mang phát triển. Phong trào đấu tranh chống ách đô hộ của ngoại xâm một lần nữa lắng xuống, nhưng vẫn chứa chất bên trong nó những bước chuyển mình lớn lao, chuẩn bị cho một cao trào cách mạng mới đi đến thắng lợi quyết định của sự nghiệp giải phóng dân tộc. 

(10/12/2003)
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

LƯỢT TRUY CẬP
2810555