ĐÀ NẴNG TRONG CAO TRÀO CÁCH MẠNG DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TIẾN TỚI CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
Từ năm 1933 đến tháng 2 năm 1945
Trong những năm 1933-1935, trên cơ sở phục hồi và củng cố các cơ sở của Đảng, các tổ chức quần chúng của Đảng, đời sống chính trị ở thành phố ngày càng sôi nổi, bước vào cuộc vận động cách mạng thời kỳ 1936-1939 với mục tiêu đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do cơm áo và hòa bình.
Đó là thời kỳ Mặt trận Dân chủ sôi động với các hình thức hoạt động công khai chuẩn bị lực lượng cách mạng cho thời điểm quyết định của sự nghiệp giải phóng dân tộc khi thời cơ đến. Cuộc ''tổng diễn tập'' đã diễn ra trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cùng với toàn tỉnh bằng cuộc vận động Đông Dương Đại hội sôi nổi khắp 3 kỳ mà trung tâm của miền Trung là thành phố Huế. Việc thành lập ''ủy ban khởi thảo nguyện vọng của dân Trung Kỳ'' (9.1936), cuộc bầu cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ (8.1937) là những cơ hội thử thách phong trào cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Ngày 28.2.1937, một cuộc biểu tình lớn nhân đón tiếp phái viên của Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp sang Đông Dương thu thập dân nguyện đã được tổ chức tại thành phố Đà Nẵng. Đồng chí Phan Bôi đại diện cho nhân dân địa phương đã tiếp và trao tận tay J.Gôđa (Gôdart) bản ''Dân nguyện'' tại Tòa đốc lý thành phố. Bên bờ sông Hàn, (quai de Courbet), hiệu sách Việt Quảng do các đồng chí Lê Văn Hiến, Thái Thị Bôi và Nguyễn Sơn Trà được mở làm cơ quan phát hành sách báo tiến bộ, trong đó có tác phẩm ''Ngục Kon Tum'' của Lê Văn Hiến tố cáo tội ác chế độ lao tù của thực dân.
Cùng với cuộc đấu tranh công khai đòi dân chủ và tiến bộ xã hội, cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của giai cấp công nhân cũng phát triển đặc biệt vào thời điểm thế giới bước vào cuộc khủng hoảng sâu sắc trước ngưỡng cửa của cuộc đại chiến. Ngày 1.1.1939 phu xe kéo Đà Nẵng đình công chống chủ tăng giá thuê xe; ngày 9.6.1939 công nhân khuân vác cảng sông Hàn, ngày 28.7.1939 công nhân hãng buôn Quảng Hòa Mỹ tổ chức đấu tranh đòi quyền lợi. Cuộc vận động bầu cử vào giữa năm 1939 với đám tang Phan Thanh, và thắng lợi áp đảo của Đặng Thai Mai được công bố vào ngày 31.7.1939 là những hoạt động sôi nổi cuối cùng của thời kỳ vận động dân chủ để chuẩn bị bước sang một cao trào quyết liệt của phong trào giải phóng dân tộc trước một vận hội mới khi đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ (1.9.1939).
Chỉ hai tháng sau khi chiến tranh bùng nổ, tháng 11.1939, Hội nghị Trung ương Đảng đã họp tại Hóc Môn (Bà Điểm) vạch rõ sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, xác định nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc khỏi ách đế quốc, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết tập hợp và huy động mọi lực lượng dân tộc sẵn sàng chuẩn bị bạo động giành chính quyền khi thời cơ đến.
Nhưng cùng vào thời điểm này, thực dân Pháp và tay sai thẳng tay đàn áp, thủ tiêu mọi thành quả của thời kỳ Mặt trận Dân chủ, các cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng một lần nữa phải chịu những tổn thất lớn. Tuy nhiên phong trào cách mạng được tôi luyện trong những năm 1936-1939 vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh trong điều kiện mới của lịch sử. Cuộc đấu tranh chống đưa lính người Việt qua chính quốc làm bia đỡ đạn của 5000 lính đang tập trung tại cảng Đà Nẵng là một điển hình. Chỉ vài tháng sau những cuộc khủng bố của kẻ thù, tháng 3.1940 cơ sở Đảng được khôi phục, Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Nam được bầu lại do đồng chí Võ Toàn làm Bí thư. Các Xứ uỷ Trung Kỳ và Nam Kỳ đều cử phái viên vào Đà Nẵng, 3 chi bộ Đảng được lập lại (Thanh Khê, Phú Lộc và Đề pô xe lửa). Tỉnh ủy ra tờ ''Khởi nghĩa'' sau đó là tờ ''Cờ giải phóng'' phản ánh rõ nhiệm vụ quan trọng nhất lúc này là chuẩn bị lực lượng để giành chính quyền về tay cách mạng.
Đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941) vạch ra cương lĩnh chính trị của công cuộc giải phóng dân tộc và thành lập Mặt trận Việt Minh, thổi một luồng sinh khí mới vào phong trào cách mạng trên cả nước.
Ngày 28.7.1941 quân Nhật đổ bộ chiếm đóng Đà Nẵng, tu sửa sân bay, bến cảng chuẩn bị cho những hoạt động quân sự nhằm chiếm đóng lâu dài, hất cẳng thực dân Pháp và tuyên truyền cho thuyết ''Đại đông Á'' . Một mặt chúng gây sức ép buộc Pháp chấp nhận làm tay sai, dung túng các lực lượng thân Nhật ngóc dậy, đồng thời ra sức đàn áp và tiêu diệt các lực lượng cách mạng và yêu nước thực sự.
Đầu năm 1942 Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam ra ''thông báo khẩn cấp'' vạch rõ nhiệm vụ cấp bách lúc này là ''chuẩn bị đủ lực lượng chính trị, kinh tế, quân sự và phương pháp để đánh đổ kể thù pháp và Nhật cùng bọn Việt gian...''
Các đoàn thể Việt Minh và các tổ chức vũ trang được hình thành khắp nơi, Đà Nẵng lúc này trở thành căn cứ cho cả phát xít Nhật và đế quốc Pháp nên các tổ chức cách mạng rất khó hoạt động. Tháng 8.1942, Liên Tỉnh Thành uỷ Quảng Nam - Hội An - Đà Nẵng được thành lập và sau hội nghị 16.1.1943 thì 3 đảng bộ hợp nhất thành Đảng bộ Quảng Nam, Bí thư Tỉnh ủy là đồng chí Võ Toàn. Tỉnh ủy ra báo ''Cờ độc lập''.
Tình hình thế giới diễn ra một cách mau lẹ, phát xít Nhật đang đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt phải đầu hàng quân Đồng minh. Tháng 2.1945, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam họp tại Tam Kỳ đã vạch ra những công tác chuẩn bị trực tiếp để giành chính quyền khi thời cơ đến.
(Còn tiếp)