ĐÀ NẴNG CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG, TÍCH CỰC CHUẨN BỊ CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN (09.1945 - 12.1946)

Nhân dân Đà Nẵng xây dựng chính quyền Cách mạng

Cách mạng thành công, Đà Nẵng có thêm thế và lực mới. Thành phố thoát khỏi ách thống trị nhượng địa, nhân dân có chính quyền, bắt đầu cuộc đời làm chủ quê hương, làm chủ bản thân mình. Đất nước đã được tuyên bố độc lập, Bắc Nam đã liền một dải, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa ra đời. Từ đó, Đà Nẵng không chỉ có sự chỉ đạo thống nhất của Nhà nước trung ương, mà còn nhận được sự chi viện, hỗ trợ lẫn nhau rất lớn của các địa phương khác trong cả nước. Một khí thế cách mạng sôi nổi, một tinh thần lạc quan tin tưởng bao trùm khắp nơi. Trong tình hình đó, lãnh đạo thành phố chủ trương đổi tên thành phố Đà Nẵng thành thành phố Thái Phiên. Lòng tự hào, yêu nước của toàn dân được nhân lên. Ai cũng muốn được đóng góp công sức cho sự nghiệp cách mạng. Mọi người đều có ý thức phát huy sáng kiến, sáng tạo vào công cuộc củng cố quê hương. 

Ngày 2.9.1945, nhân dân khắp nội ngoại thành kéo về khu vực sân vận động Chi Lăng để làm lễ mừng Độc Lập và lắng nghe Tuyên ngôn Độc lập. Dòng người nườm nượp nối nhau, đội ngũ nghiêm trang tề chỉnh. Cờ đỏ sao vàng tung bay rợp trời, tiếng hô Độc lập dậy đất. Ý chí quyết tâm, tinh thần hồ hởi, cả thành phố bừng bừng đứng dậy. 

Nhưng cũng như tình hình chung của cả nước, bên cạnh những thuận lợi căn bản, từ sau Cách mạng tháng Tám, sự nghiệp của nhân dân thành phố cũng có nhiều khó khăn phức tạp. Khác với đồng bào mình ở các tỉnh ngoài Bắc, nhân dân Đà Nẵng không phải trải qua một nạn đói khủng khiếp, song ảnh hưởng của nó cũng tác động đến đây phần nào. Với tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau, nhân dân Đà Nẵng ý thức rất rõ trách nhiệm của mình. Khi chính quyền cách mạng được thiết lập, Đà Nẵng tiếp thu được một số lượng gạo rất lớn của quân Nhật và của các hãng buôn. Thêm nữa, lượng gạo trong Nam tiếp tục chở ra cho quân Nhật ta cũng thu được hết. Nhưng Đà Nẵng chỉ để lại một lượng gạo đủ ăn cho mình ở mức độ tùng tiệm, còn gửi ra chi viện cho đồng bào miền Bắc hai chuyến tàu gạo. Ngoài ra, hưởng ứng lời kêu gọi 'hũ gạo tiết kiệm' của Hồ Chủ tịch, nhân dân Đà Nẵng cũng thực hiện cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi bữa một bơ để hàng tháng có gạo gửi ra miền Bắc giúp đồng bào nghèo. Nhân dân Đà Nẵng vui vẻ chấp nhận chế độ ăn cơm sáo ghế để được đồng cam cộng khổ với đồng bào cả nước. 

Lúc này thành phố gặp khó khăn rất lớn trong việc giải quyết nguồn tài chính. Trong cách mạng ta chỉ thu được từ tay giặc Nhật một số bao tải tiền mặt, song phần lớn là đồng hào rách. Trong khi đó, nền sản xuất, trên tất cả các mặt công, thương, ngư, nông nghiệp đều bị đình đốn. Công nghiệp Đà Nẵng dưới thời Pháp thuộc nhỏ bé, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu quân sự và ăn ở của đạo quân thống trị. Một số cơ sở tiêu biểu như: nhà máy điện, nhà máy nước, bến cảng, sở hỏa xa, Artizeria (sửa chữa xe điện), xí nghiệp Staca... nay đều đã đóng cửa hoặc chỉ hoạt động yếu ớt. Tất cả các hãng buôn của Pháp như: Denis Frères, Sacric, Lucia... đều bị Nhật vơ vét, chỉ còn xác nhà. Thêm nữa, những tệ nạn của xã hội cũ để lại rất nặng nề: cờ bạc, rượu chè, gái điếm, nghiện hút... có ở khắp nơi. Tuyệt đại đa số nhân dân mù chữ. Trình độ văn hóa của cán bộ rất thấp. Chính quyền cách mạng tuy đã được thành lập, nhưng còn mang tính lâm thời, đơn giản. Phần lớn cán bộ chính quyền là những cán bộ cách mạng, chưa biết nhiều về công việc quản lý hành chính. Việc tổ chức xã hội, quản lý xã hội có nhiều lúng túng. 

(Còn tiếp)

(10/12/2003)
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

LƯỢT TRUY CẬP
2810588