ĐÀ NẴNG CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG, TÍCH CỰC CHUẨN BỊ CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN (09.1945 - 12.1946)
Nhân dân Đà Nẵng xây dựng chính quyền Cách mạng (tiếp theo)
Song khó khăn lớn nhất của thành phố vẫn là những hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch. Lúc này, trong thành phố có tới 5000 quân Nhật tập trung về chờ lệnh giải giáp. Quân Nhật đã bại trận, nhưng trang bị vũ khí của chúng vẫn còn nguyên vẹn. Nếu chính quyền ta không mạnh, ai dám chắc chúng không quay súng lại tấn công. Rồi từ ngày 15.9.1945, thực thi quyết định của hội nghị giữa các nước đồng minh tại Potsdam, 4000 quân Tưởng kéo vào Đà Nẵng. Ở các tỉnh miền Bắc, khi quân Tưởng kéo vào, chúng mang theo cả lực lượng phản cách mạng tập trung trong hai tổ chức: Việt Nam quốc dân đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách). Ở Đà Nẵng, Việt Quốc, Việt Cách không có cơ sở, tổ chức mạnh như ở ngoài Bắc, nhưng ít nhiều chúng cũng có ảnh hưởng và gây khó dễ cho cách mạng. Dựa vào thế lực các đế quốc bên ngoài tràn vào thành phố, các lực lượng phản động bên trong cũng ngóc đầu dậy. Trong khi đó, sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ nhân dân còn nhiều khiếm khuyết, chưa được củng cố. Khi cách mạng nổi lên, ta mới chỉ kịp huy động quần chúng ra trận tranh đấu cho kịp thời cơ, mà nhiều nơi chưa kịp tổ chức họ thành đoàn thể. Những địa chủ, tư sản có một số ngả theo cách mạng, một số khác lại có thái độ lừng chừng, đợi thời, xem thế. Tầng lớp trí thức cũng còn nhiều người chưa hiểu rõ cách mạng. Đà Nẵng có nhiều tổ chức tôn giáo: Cao Đài, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành... Số phản động cầm đầu một số tôn giáo không ưa gì cách mạng, chưa dám chống đối ra mặt, nhưng cũng hoạt động ngấm ngầm. Đà Nẵng còn một số lượng đáng kể người Hoa. Họ đã làm ăn, sinh sống ở đây từ lâu. Khi Cách mạng Việt Nam thành công, quân Tưởng vào, do bị ảnh hưởng tư tưởng của chế độ Tưởng Giới Thạch, họ không tin vào sự phát triển của Cách mạng Việt Nam, tuy họ không có hành động chống đối đáng kể. Đồng thời cũng nảy sinh hiện tượng cục bộ giữa các địa phương trong tỉnh liên quan đến việc quản lý những lợi ích kinh tế.
Lúc này ở Đà Nẵng, số lượng đảng viên rất ít. Lực lượng vũ trang, công cụ chủ yếu để bảo vệ chính quyền, cũng chỉ mới được nhen nhóm, số lượng không nhiều, tổ chức chưa vào nề nếp, trang bị hết sức thô sơ.
Tất cả những tình hình trên đòi hỏi nhân dân Đà Nẵng phải có một cố gắng vượt bậc mới đưa được cách mạng vượt qua bước thử thách ngặt nghèo. Vấn đề trước mắt phải giữ vững chính quyển của nhân dân, phải xây dựng được chế độ xã hội mới để biến sự nghiệp cách mạng thành sự nghiệp chung của toàn dân. Muốn thế, Đà Nẵng phải ổn định được tình hình kinh tế - xã hội, thực hiện được đại đoàn kết toàn dân, xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh, để có thực lực đủ mạnh đập tan mọi âm mưu của thù trong giặc ngoài.
Về củng cố chính quyền nhân dân, lãnh đạo thành phố có hai chủ trương. Một là, đề nghị Xứ ủy cho tách Đà Nẵng ra khỏi Quảng Nam, thành một đơn vị độc lập. Chủ trương này có từ trước, nhưng nay Xứ ủy mới chấp thuận. Từ đầu tháng 9.1945 Đà Nẵng tách khỏi Quảng Nam. Một thời gian ngắn sau, đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Tố Hữu chỉ đạo cho nhập lại. Tuy nhiên, do những đòi hỏi cấp bách của tình hình nên sự sát nhập đó mãi tới ngày toàn quốc kháng chiến, khi có cuộc họp hai bên ở Ái Nghĩa (Đại Lộc) mới thực hiện được. Thứ hai là mở rộng địa dư thành phố và phân chia các khu hành chính. Sau khi được cấp trên đồng ý cho sát nhập phần đất Nam Thọ, Hòa Hải của huyện Hòa Vang vào, thành phố Đà Nẵng được chia thành 3 khu phố: Khu Trung (Nội thành), khu Đông và khu Tây (ngoại thành).
Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời thành phố duy trì đến tháng 10.1945 thì đổi ra là uỷ ban Nhân dân. Đồng chí Lê Văn Hiến được Việt Minh thành cử làm Chủ tịch đầu tiên. Hôm sau Trung ương điều động đồng chí Hiến ra làm Bộ trưởng, đồng chí Lê Dung lên thay làm Chủ tịch ủy ban. Ngày 6.1.1946, thực hiện chủ trương chung của Nhà nước Trung ương, nhân dân Đà Nẵng tưng bừng tổ chức Tổng tuyển cử. Cuộc Tổng tuyển cử đã được tổ chức chu đáo, theo đúng pháp lệnh của Nhà nước. Đó thực sự là một ngày hội lớn của nhân dân thành phố. Kết quả, đồng chí Lê Dung đã trúng cử đại biểu Quốc hội đầu tiên của thành phố, trong số 333 đại biểu trúng cử chính thức của cả nước. Lần dầu tiên trong lịch sử, người dân thành phố được thực hiện quyền làm chủ chính quyền, làm chủ quê hương, đất nước của mình. Ý thức chính trị, lòng yêu nước, sự gắn bó với cách mạng được nâng cao hơn bao giờ hết.
(Còn tiếp)