ĐÀ NẴNG CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG, TÍCH CỰC CHUẨN BỊ CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN (09.1945 - 12.1946)

Nhân dân Đà Nẵng xây dựng chính quyền Cách mạng (tiếp theo)

Ngày 17.2.1946, nhân dân Đà Nẵng lại nô nức tổ chức cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân liên tỉnh (Đà Nẵng có 10 vị ra ứng cử, trúng 4). Cuối tháng 2.1946, Hội đồng nhân dân tỉnh họp và cử ra ủy ban hành chính tỉnh. Tháng 3.1946, cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố cũng được tổ chức, 25 vị đã trúng cử ngay vòng đầu. Tháng 4.1946, Hội đồng nhân dân thành phố họp phiên đầu tiên ở Cổ Viện Chàm cử ra ủy ban hành chính thành phố gồm 5 vị. Ủy ban hành chính thành phố họp và chia lại địa giới thành phố ra làm 7 khu phố. Đảo Hoàng Sa (Paracel) được quy định là một đơn vị xã, trực thuộc uỷ ban hành chính thành phố. Tiếp đến, các xã cũng tổ chức bầu Hội đồng nhân dân của mình và cử ra ủy ban hành chính xã, ủy ban hành chính khu phố. Mỗi ủy ban lại cử ra một chủ tịch, một phó chủ tịch, một thư ký và một số ủy viên phụ trách các mặt công tác. Vậy là đến đây, nhân dân Đà Nẵng đã có chính quyền chính thức của mình, từ cấp tỉnh đến các cấp cơ sở là cấp xã. Những thành viên của chính quyền đó thể hiện được ý chí, nguyện vọng và lợi ích của toàn dân. Họ không chỉ là những người của đoàn thể cách mạng, mà có cả nhân sĩ, trí thức yêu nước. Mai Xuân Tương vốn là một công chức có cỡ của tòa Đốc lý Đà Nẵng trước đây, nay được cử giữ chức Phó chủ tịch khu Trần Phú. Tinh thần đại đoàn kết toàn dân, tính chất dân chủ của chính quyền bước đầu đã được thể hiện. 

Về xây dựng Đảng, việc cần kíp là phải phát triển đảng viên. Ta tổ chức cho các đảng viên cũ có đủ điều kiện trở lại sinh hoạt, đồng thời chọn kết nạp mới những quần chúng tốt tích cực. Tháng 9.1945, Thành ủy lâm thời Đà Nẵng được thành lập gồm 7 đồng chí, Huỳnh Ngọc Huệ làm Bí thư. Tháng 11.1945, theo chủ trương chung của toàn Đảng, để tránh mũi nhọn tấn công của kẻ thù, tổ chức Đảng ở Đà Nẵng cũng rút vào hoạt động bí mật, nhưng công tác phát triển đảng viên vẫn được đẩy mạnh. Đến tháng 4.1946, trong các lực lượng vũ trang, trong các cấp chính quyền và các đoàn thể quần chúng, Đảng đã xây dựng được nhiều cơ sở, tổ chức của mình. Cũng trong tháng 4.1946, một Thành uỷ chính thức được thành lập, do Nguyễn Ngọc Chấn làm Bí thư. Đến cuối năm 1946, toàn thành phố đã có 14 chi bộ với 94 đảng viên. 

Về xây dựng lực lượng vũ trang, từ những đơn vị tự vệ trong khởi nghĩa giành chính quyền, với vài chục khẩu súng trường thu được của Nhật tại trại Bảo An binh, ta tuyển thêm một số thanh niên hăng hái, khỏe mạnh, thành lập đại đội Phan Thanh. Nói đại đội, thực tế quân số của nó tương đương một tiểu đoàn. Đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên này gồm 4 trung đội nam, 1 phân đội nữ, với nhiều tiểu đội. Ban chỉ huy cấp trung đội, phân đội, phần lớn là hạ sĩ quan tuyển trong lính khố xanh, khố đỏ cũ. Ta thuyết phục được một số sĩ quan Nhật giúp vào việc huấn luyện quân sự. Do đó nguồn súng, đạn, vải vóc ta tiếp tục lấy được từ tay Nhật nên đơn vị được trang bị tương đối khá. Mỗi tiểu đội có 9, 10 súng trường, mỗi trung đội có vài khẩu trung liên, quân phục thì bằng vải ka-ky. Từ cuối năm 1945, lực lượng quân sự Đà Nẵng đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của tỉnh đội. Đầu năm 1946, lực lượng vũ trang tập trung của hai bên Quảng Nam và Đà Nẵng sát nhập, lập ra Chi đội I, gồm 4 tiểu đoàn và 2 phân đội nữ, trong đó tiểu đoàn Phan Thanh có nhiệm vụ bảo vệ Đà Nẵng. Các lực lượng tự vệ có từ trước vẫn được duy trì. Ta lập thêm các đơn vị dân quân. Để lãnh đạo các lực lượng dân quân và tự vệ, ta lập cơ quan Thành đội, dưới có các khu đội và xã đội, các công sở xí nghiệp thì có ban chỉ huy quân sự. Đầu năm 1946, ta sát nhập tự vệ và dân quân, thành Vệ dân đoàn. Các đơn vị cảnh sát và công an cũng được lập từ cuối năm 1945, đầu năm 1946 sát nhập lại và thống nhất gọi là Công an. Đây là một lực lượng được xây dựng hoàn chỉnh nhất, với trang phục khá đàng hoàng. 

Sau cách mạng, Đà Nẵng thu được của Nhật cả một khu tổng kho với 24 nhà kho chạy dài từ sân bay ra ngã tư Thanh Khê, có khoảng 2000 tấn hàng hóa. Sau đó, ta lại thuyết phục Nhật trao trả tất cả các kho lẻ tẻ còn lại ở Đông Giang và nội thành, thêm được khoảng 2000 tấn hàng nữa. Các mặt hàng đó, ngoài các loại ngũ cốc, còn có khoảng 8 tấn kim loại quý (Banka), mấy kho vải thượng hạng, rồi xe cộ, phụ tùng máy kéo, xăng dầu, một hầm đạn 105mm và nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh khác. Nhờ thế, ta có nguồn trang bị trước mắt cho các lực lượng vũ trang. Để đáp ứng nhu cầu phát triển lâu dài, một mặt ta tổ chức phong trào tìm kiếm, mua bán vũ khí với binh sĩ địch. Có tên lính Nhật mang cả khẩu đại liên ra bán mà chỉ lấy 300 đồng, có chị em gái giang hồ cũng tìm cách ve vãn lính địch để kiếm súng cho cách mạng. Mặt khác, là mặt chủ yếu, ta tổ chức chế tạo vũ khí. Công nhân đường sắt và công nhân công chính nhận việc rèn dao găm, mã tấu, gươm giáo và nghiên cứu sản xuất lựu đạn, mìn, súng. Khẩu tiểu liên đầu tiên đem bắn thử tại bãi biển sau ga lớn. Các đồng chí Lê Văn Nho, Nguyễn Văn Báu ở xưởng đề pô xe lửa đã hy sinh trong khi sản xuất lựu đạn. Noi gương anh, xưởng quân giới tỉnh đã lấy tên hai anh đặt cho đơn vị mình, gọi là xưởng Nho - Báu.

(Còn tiếp)

(10/12/2003)
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

LƯỢT TRUY CẬP
2810607