ĐÀ NẴNG CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG, TÍCH CỰC CHUẨN BỊ CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN (09.1945 - 12.1946)

Nhân dân Đà Nẵng xây dựng chính quyền Cách mạng (tiếp theo)

Có chính quyền, có Đảng, có lực lượng vũ trang, đó là những nhân tố căn bản để giữ gìn thành quả cách mạng. Nhưng chưa đủ, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Do đó, vấn đề hết sức quan trọng khác là phải tổ chức quần chúng thành mặt trận dân tộc rộng rãi, có tinh thần đoàn kết, nhất trí cao. Phong trào Việt Minh đã có, nhưng chưa rộng, chưa sâu. Để khắc phục, lãnh đạo thành phố đã tổ chức nhiều hình thức: học tập, vận động, thuyết phục các tầng lớp nhân dân để họ hiểu rõ hơn đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước, mục đích của Mặt trận và quyền lợi, nghĩa vụ người công dân. Đại đội tuyên truyền xung phong được thành lập. Các phương tiện thông tin đại chúng được tăng cường. Những bài ca của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu cất vang theo dấu chân của các chiến sĩ tuyên truyền cùng với các bài diễn thuyết hết sức thiết thực, cụ thể, đã gây tác động to lớn. Kết quả, sau một thời gian, các hình thức tổ chức đoàn thể của quần chúng như: công nhân cứu quốc, thương gia cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, học sinh cứu quốc, Phật tử cứu quốc... được thành lập khắp nơi, rồi từng đoàn thể đứng ra tổ chức đại hội để thống nhất hệ thống tổ chức theo ngành dọc của mình từ cấp cơ sở lên cấp thành phố, cấp tỉnh. Nhân dân thành phố thực sự trở thành một khối đại đoàn kết có tổ chức xung quanh Mặt trận Việt Minh Thành. 

Với chính quyền trong tay, với các lực lượng cách mạng đã xây dựng được, ta kiên quyết tiến hành trấn áp bọn phản động nguy hại. Những tên Việt gian, từng có nhiều nợ máu với nhân dân lần lượt bị sa lưới pháp luật. Tên Hoàng Trân bị kết án tử hình, xử bắn tại phía nam cầu Cẩm Lệ. Các tên Nguyễn Văn Huệ, Trịnh Quang Phê bị kết án 10 năm tù giam. Số khác thì bị bắt giam, buộc phải trải qua một thời gian cải tạo. Ở nhiều xã, nhân dân còn tự lập hồ sơ những bọn quan lại, tổng lý cường hào, những bọn có thái độ chống đối để gửi lên chính quyền thành phố xét xử. Tuy nhiên, việc bắt bớ trong thời gian này không được tập thể bàn bạc kỹ nên có xảy ra một số trường hợp bắt nhầm, xử không đúng tội danh, làm cho một số người ca thán, bất mãn, trong đó có cả một số trí thức. 

Song song với việc trấn áp bọn phản động, chính quyền nhân dân cũng đã ban bố các quyền tự do dân chủ, khôi phục sản xuất để phát triển nền kinh tế đô thị. Theo chủ trương của Nhà nước Trung ương, chế độ ngày làm việc 8 giờ đối với thợ thuyền được thực hiện. Các thứ thuế vô nhân đạo của chế độ cũ, đặc biệt là thuế thân, thuế chợ, thuế đò, được bãi bỏ. Các nhà tư sản công nghiệp, thương nhân được tự do phát triển kinh doanh. Địa chủ phải giảm tô 25%, ruộng công được chia lại cho cả nam lẫn nữ, và tá điền cùng địa chủ được khuyến khích hòa giải trên cơ sở đôi bên cùng có lợi để cùng nhau chăm sóc cấy trồng. Tuy nhiên trong vấn đề giải quyết ruộng đất, do không nắm vững chính sách nên có nơi như Mỹ Khê đã phạm sai lầm quá tả và cuối cùng thất bại. Các xí nghiệp, thương cảng, hãng buôn cũng lần lượt mở cửa trở lại. Chợ búa hoạt động bình thường. Tết âm lịch năm 1945, mặc dù đang có rất nhiều khó khăn nhưng chính quyền thành phố vẫn tổ chức chu đáo cho nhân dân, có hội chợ Lu-xi-a để dân đón xuân, vui tết. Các cháu thiếu nhi thì được ăn tết Trung thu tại câu lạc bộ (Cercle). 

Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, các phong trào 'tấc đất tấc vàng', 'ngày đồng tâm', 'tuần lễ vàng', 'tuần lễ đồng'... được phát động sôi nổi khắp thành phố. Kết quả, nhân dân Quảng Nam Đà Nẵng đã quyên góp được 20 kg vàng và hàng tấn đồng thau. Ngày 27.8.1945, các nhà buôn tự nguyện mang hiến cho chính quyền 20 chiếc xe đạp. Nhiều người hiến cả máy móc, nhà cửa, đất vườn để chính quyền đóng trụ sở, làm doanh trại và dựng công binh xưởng... Các trường học công, tư đều mở lại đón học sinh. Một số trường mới đã lập, đáp ứng nhu cầu giáo dục phổ thông. Đặc biệt, lần đầu tiên thành phố lập một trường trung học mang tên Thái Phiên, dạy bằng tiếng Việt. Phong trào bình dân học vụ cũng rất phát triển. Các lớp học ban đêm có rất nhiều học viên, ở mọi lứa tuổi. Ta còn mở cửa hàng sách Thái Thị Bôi để làm tụ điểm giao lưu văn hóa, mở mang tri thức và trao đổi thông tin cho quảng đại quần chúng. 

Ngày 23.9.1945, được quân Anh che chở, thực dân Pháp nổ súng gây hấn Sài Gòn. Ngày 6.10.1945, được sự trợ giúp của 9000 quân Nhật, thực dân Pháp đổ bộ lên thị xã Nha Trang, tiến công chính quyền nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Đất nước mới độc lập chưa được bao ngày, bọn đế quốc đã vào hùa với nhau xâm lược. Cả nước căm thù và phẫn uất hướng về Nam, chia xẻ với đồng bào mình, quyết không chịu mất nước, không trở lại cuộc đời nô lệ. Nhân dân Đà Nẵng sục sôi xuống đường. Những 'Ngày Nam Bộ', những phong trào 'Nam tiến' được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Tiểu đoàn Phan Thanh được lệnh lên đường Nam tiến, chi viện cho mặt trận An Khê, Plây Cu. Một số khác đi lẻ tẻ vào Nam, có số lại được biệt phái sang Trung Lào. Tính chung lại ở Quảng Nam Đà Nẵng, cứ 100 vệ quốc quân thì có 37 người đã vào miền Nam tham gia chiến đấu. Chị em tiểu thương các chợ và nhân dân thành phố thì đóng góp 500 gói quà (bánh ú, bánh hộc, kẹo, khăn mặt, thuốc men, mền chiếu) chất đầy 50 giỏ cần xé chở ra ga để gửi tặng các đoàn quân Nam tiến từ Bắc đi qua. 

Tóm lại, từ sau khi giành được chính quyền, với những biện pháp kiên quyết và sáng tạo, nhân dân Đà Nẵng không những đã giải quyết tốt những vấn đề cấp bách của mình, mà còn có những đóng góp đáng kể vào việc giải quyết những vấn đề chung của cả nước. Chính quyền nhân dân thành phố không chỉ được giữ vững, mà có bước phát triển. Tổ chức Đảng, mặt trận, các đoàn thể quần chúng đều được củng cố. 

(Còn tiếp)

(10/12/2003)
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

LƯỢT TRUY CẬP
2810607