ĐÀ NẴNG CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG, TÍCH CỰC CHUẨN BỊ CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN (09.1945 - 12.1946)
Đấu tranh giữ vững chủ quyền, tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến
Với danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật, từ trung tuần tháng 9.1945, bốn ngàn quân Tưởng kéo vào Đà Nẵng. Bọn này thuộc quân đoàn 60 của tỉnh Vân Nam, do Vạn Bảo Bang chỉ huy. Khi sang Việt Nam chúng kéo theo cả bộ phận dân thường, gồm cả đàn bà, trẻ em, thật là một đạo quân ô hợp.
Thoạt đầu, quân Tưởng đóng cả ở Hội An, Vĩnh Điện, với lý do là vĩ tuyến 16 kéo dài tới những nơi này. Chúng dán bố cáo khắp các ngả đường, tự cho mình có quyền tước vũ khí quân Nhật và giữ gìn an ninh trật tự thành phố. Chúng còn răn đe, nếu ai bất tuân lệnh sẽ bị nghiêm trị. Chúng tung một số lượng lớn đồng Quan Kim, một đồng tiền đã mất giá ra thị trường, buộc ta phải tiêu thụ. Binh lính của chúng còn vác súng đi thị uy lung tung, bất chấp luật lệ. Khi cảnh sát giao thông của ta dàn xếp, chúng nổ súng bắn chết đồng chí Quýt tại cầu Vồng (đường Lê Duẩn hiện nay). Trắng trợn hơn, chúng còn kéo quân đến chiếm trụ sở Việt Minh Thành.
Nhân dân Đà Nẵng phẫn uất trước những hành động phá hoại của quân Tưởng. Nhưng chấp hành chủ trương 'Hoa Việt thân thiện' của Trung ương, lãnh đạo thành phố đã giáo dục nhân dân tự kiềm chế, đấu tranh có phương pháp để ủng hộ Trung ương trong cuộc ngoại giao, tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chủ yếu là thực dân Pháp. Phương pháp đấu tranh của ta lúc này là mềm dẻo, tránh khiêu khích, nhưng kiên quyết giữ vững chủ quyền. Ta cử đại biểu đến gặp Bộ chỉ huy của quân Tưởng, gọi là 'cảnh bị đội' đóng ở hãng xăng (nay là trụ sở UBND thành phố) để phản đối và dàn xếp mọi mặt, bình tĩnh thuyết phục. Đám đưa tang đồng chí Quýt của nhân dân thành phố vừa rồi đã làm cho chúng nhận biết phần nào. Chúng đành quay sang yêu sách ta phải cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho đạo quân chiếm đóng của chúng. Đại biểu ta nhận lời, nhưng yêu cầu chúng phải tôn trọng chính quyền của ta, phải tuân theo sự sắp xếp, luật lệ của ta thì mới đảm bảo được an ninh.
Cuộc ngoại giao đã mang lại kết quả tốt. Quân Tưởng phải rút khỏi Hội An, Vĩnh Điện, chỉ được hoạt động ở phía bắc vĩ tuyến 16 trở ra, tức từ bờ bắc sông Cẩm Lệ. Trong thành phố, chúng phải rút khỏi trụ sở Việt Minh thành, chỉ đóng quân cụm lại ở một số vị trí do ta quy định. Mỗi lần chúng chuyển quân phải xin phép ta, binh lính chúng ra đường tuyệt đối không được mang súng. Đối với vụ bắn chết đồng chí Quýt, viên chỉ huy quân Nhật phải chính thức xin lỗi ta, hứa sẽ xử phạt tên lính đã gây tội ác và không có trường hợp lặp lại. Không những thế, do có biện pháp đấu tranh khôn khéo, ta còn nhận được thêm 10 tấn đạn và súng từ tay quân Tưởng. Về phía ta, lãnh đạo thành phố giao cho Hội phụ nữ tổ chức một bộ phận cung cấp lương thực, thực phẩm cho quân Tưởng tại chợ Hàn. Chúng không được phép trực tiếp mua bán, giao dịch với dân. Thông qua sự cung cấp của bộ phận ở chợ Hàn, ta còn nắm khá vững quân số của chúng, tình hình di chuyển và sức khỏe của binh sĩ chúng. Nếu có những căng thẳng trong quan hệ giữa ta và chúng, ta sử dụng biện pháp cắt cung cấp lương thực, thực phẩm, khiến chúng phải chịu nhượng bộ. Đối với một số tư sản Hoa kiều, ỷ thế quân Tưởng, nhập hàng lậu, không chịu nộp thuế, ta huy động quần chúng đấu tranh vạch mặt, còn công nhân khuân vác thì từ chối không chịu bốc dỡ hàng, buộc chúng phải chịu tuân theo pháp luật của ta.
Ngày 28.2.1946, cuộc mặc cả về quyền lợi ở Việt Nam giữa chính quyền Tưởng và thực dân Pháp ngã giá, hiệp ước Pháp - Hoa được ký kết. Tưởng đồng ý cho Pháp thay quân Tưởng làm nhiệm vụ tiếp phòng phía bắc vĩ tuyến 16. Trước tình hình đó, để tránh trường hợp cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, Chính phủ Trung ương buộc phải lựa chọn giải pháp ký kết với thực dân Pháp bản hiệp định sơ bộ 6.3.1946. Trong đó quy định, phía Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, nằm trong Liên bang Đông Dương và khối liên hiệp Pháp có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính riêng. Việc thống nhất ba kỳ thuộc quyền quyết định của nội bộ nhân dân Việt Nam. Về phía ta, đồng ý cho quân Pháp được thế chân quân Tưởng ở phía bắc vĩ tuyến 16 với quân số 15000 người, cùng quân đội Việt Nam phụ trách việc công an và phòng vệ. Số quân Pháp đó sẽ rút dần, mỗi năm 1/5 quân số và trong vòng 5 năm quân đội Việt Nam sẽ hoàn toàn thay thế quân đội Pháp quốc. Tiếp theo, ngày 3.4.1946 hội nghị tham mưu Việt - Pháp họp và quy định rõ địa điểm đóng quân và số quân của mỗi bên. Trong đó, ở Đà Nẵng, quân Pháp được duy trì một lực lượng 225 binh sĩ, còn phía Việt Nam có 904 quân nhân.
(Còn tiếp)