ĐÀ NẴNG CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG, TÍCH CỰC CHUẨN BỊ CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN (09.1945 - 12.1946)

Đấu tranh giữ vững chủ quyền, tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến (tiếp theo)

Để thi hành Hiệp định, Trung ương phái đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp vào Đà Nẵng truyền đạt chủ trương. Thực hiện Hiệp định, trung tuần tháng 3.1946 quân Tưởng rút khỏi Đà Nẵng. Đã được thỏa thuận của ta rồi, nhưng đến khi rút quân bọn Tưởng vẫn lo sợ, bộ phận đi cuối của chúng phải đi giật lùi để đề phòng ta đánh tập hậu. Ngày 1.4.1946 quân Pháp đến thế chân, nhưng chúng kéo vào tới một ngàn quân, do tên quan tư Coste chỉ huy. Sau đó chúng vẫn lén lút đưa thêm quân số và trang bị vũ khí vào Đà Nẵng. Chúng mang theo cả một số tên Pháp dân sự, từng nằm trong guồng máy cai trị trước đây và các chủ hãng buôn người Pháp có thời đã sinh sống, kinh doanh tại Đà Nẵng. Đến Đà Nẵng, với sự thỏa thuận của ta, các đạo quân Pháp tập trung đóng ở một số điểm: trại lính khố đỏ, nhà hàng Morins frères, nhà băng, hãng Denis, Ba kho, nhà thương Tây, khu Rô đông (khu vực dọc theo đường Trần Phú, Bạch Đằng, từ nhà bưu điện xuống đến cảng) và sân bay. 
Về phía ta, Ủy ban kháng chiến miền điều ra Đà Nẵng trung đoàn chủ lực 96 gồm 2 tiểu đoàn (tiểu đoàn 17 và 18) để cùng phía Pháp thực hiện nhiệm vụ tiếp phòng. Trung đoàn triển khai đóng giữ một số vị trí xung yếu trong thành phố như: tiểu đoàn 17 phụ trách khu vực sân bay, Cẩm Lệ; còn tiểu đoàn 18 phụ trách khu vực Thanh Khê, Nam Ô; một bộ phận khác đóng ngay trong nội thành và vùng ven. Một cơ quan hỗn hợp, gọi là Ty Liên kiểm Việt - Pháp, bao gồm cả binh sĩ người Việt và người Pháp, được lập để thường trực giải quyết những vụ xung đột, xích mích xảy ra hàng ngày giữa các lực lượng vũ trang của hai bên hay giữa nhân dân thành phố với binh sĩ Pháp. Ty đóng trụ sở trên gác nhà ở góc đường Pigneau de Béhaine Jules Perry (nay là góc đường Lê Duẩn - Trần Phú). Hàng ngày có một tiểu đội người Việt và một tiểu đội người Pháp cùng đi tuần tra song song để duy trì trật tự, an ninh chung. 

Thời gian đầu quân Pháp tự tổ chức lấy việc tiếp tế, ăn đồ nguội mang từ tàu biển vào là chính. Ít lâu sau, theo yêu cầu của phía Pháp, ta tổ chức một cửa hàng mua bán thực phẩm và trao đổi riêng cho chúng ở chợ Hàn. Đồng thời, ta sử dụng khách sạn Morins frères làm nơi mở dịch vụ ăn uống, giải trí cho chúng. 

Ngay khi đến Đà Nẵng, bọn Pháp dã có nhiều hành động khiêu khích phá hoại Hiệp định sơ bộ. Sự kiện đầu tiên là một tên lính Pháp đã xông đến ôm một nữ tự vệ của ta đang đi tuần hành, lập tức bị tự vệ ta quây đánh, tên lính Pháp phải tháo chạy. Tên Jeautes từng làm Phó sứ Tourane cùng các chủ hãng buôn dân sự người Pháp khi trở lại Đà Nẵng đã tìm mọi cách móc nối với lực lượng, các cá nhân người Việt thân Pháp từng cộng tác với Pháp trước đây để gây ảnh hưởng, để hoạt động tình báo. Trên lĩnh vực kinh tế, có lần bọn Pháp cấu kết với hãng buôn Quảng Hòa Mỹ của Hoa kiều định mang hàng lậu ra tàu bị ta tóm được lập biên bản giao cho Ty Liên kiểm, đồng thời công nhân ta tổ chức đình công không bốc dỡ hàng, không tiếp thực phẩm cho chúng, buộc chúng phải 'ký cam kết không tái phạm'. Về khu vực đóng quân đồn trú của Pháp, giữa ta và Pháp đã có quy định chặt chẽ, nhưng chúng vẫn nhiều lần nấn ra các vùng xung yếu như khu vực Ngã Năm, Cổ Viện Chàm, nhà ga... Nghiêm trọng hơn, Pháp còn cho tay chân chui vào một số tổ chức của ta như: dân quân, Ban ủy lạo binh sĩ, trinh sát công an để phá ta từ bên trong. Chúng tổ chức giết hại cán bộ ta, như bắn đồng chí Nho bị thương, ám sát hụt đồng chí Đàm Quang Trung, Trung đoàn trưởng tiếp phòng quân... 

Nhân dân Đà Nẵng rất căm thù thực dân Pháp, nhưng vẫn nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương tạm hòa với Pháp của Trung ương để tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị tốt hơn cho cuộc kháng chiến chống Pháp sắp tới mà Đảng ta đã xác định là không thể tránh khỏi. Phương châm hành động của ta lúc này là 'bình tĩnh, kỷ luật, tránh khiêu khích và đề phòng khiêu khích'. Phương pháp đấu tranh của ta là triệt để khai thác cơ sở pháp lý của Hiệp định sơ bộ, đối thoại có lý có tình, kết hợp với sức mạnh của lực lượng chính trị quần chúng. Song ta cũng sẵn sàng chuẩn bị lực lượng vũ trang, đề phòng phía Pháp bội ước. 

Để tăng cường cho công tác bảo đảm trật tự trị an thành phố, ngoài các lực lượng trong tổ chức hỗn hợp Việt - Pháp, Công an, Dân báo đoàn, ta còn tổ chức một đại đội cảnh vệ. Đại đội này có một bộ phận nòng cốt là những kiều bào ta ở Pháp trở về nước theo Hồ Chủ tịch, trong dịp người thăm nước Pháp, cũng tình nguyện tham gia. Họ nói tiếng Pháp rất tốt, lại rất am hiểu luật lệ giao thông của Pháp vì họ đã từng sinh sống ở Paris. Bọn lính Pháp rất kiêng nể lực lượng này, nhiều vụ rắc rối nhờ có lực lượng này mà ta đã giải quyết êm thấm. 

Nhờ những thành công đó, nhân dân Đà Nẵng không những tránh được cuộc xung đột vũ trang với đạo quân Pháp chiếm đóng, bảo toàn lực lượng của mình mà vẫn tiếp tục củng cố được chính quyền nhân dân và tích cực chuẩn bị mọi mặt cần thiết cho cuộc kháng chiến. Những thành công đó cũng là những đóng góp tích cực của nhân dân Đà Nẵng vào công cuộc chung của nhân dân cả nước nhằm làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh ngoại giao vô cùng gay go của Chính phủ Trung ương. 

Việc củng cố, xây dựng chính quyền trong thời gian này, thành phố chủ yếu tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, tăng cường mối quan hệ gắn bó, mật thiết giữa chính quyền với nhân dân. Thành phố tổ chức đợt học tập thư Hồ Chủ tịch 'Gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng'. Trong học tập, lãnh đạo đặc biệt nhấn mạnh một số nội dung chủ yếu mà Hồ Chủ tịch đã viết trong thư như: 'Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. 

'Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. 

Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. 

Chúng ta phải yêu dân, kính dân, thì dân mới yêu ta, kính ta'.

Đợt học tập đã có một số tác động to lớn, uy tín và hiệu lực của bộ máy chính quyền các cấp được tăng lên rõ rệt.

(Còn tiếp)

(10/12/2003)
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

LƯỢT TRUY CẬP
2810570