ĐÀ NẴNG CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG, TÍCH CỰC CHUẨN BỊ CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN (09.1945 - 12.1946)
Đấu tranh giữ vững chủ quyền, tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến (tiếp theo)
Sau khi cuộc đàm phán Việt - Pháp ở Fontainebleau (Pháp) thất bại, Hồ Chủ tịch đã có bước nhượng bộ để ký với Chính phủ Pháp bản tạm ước 14.9.1946. Nhưng phía thực dân Pháp liên tục bội ước và không bao lâu sau, quan hệ Việt - Pháp bước vào thời kỳ căng thẳng. Trung ương Đảng nhận định: 'Không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp'. Ở Đà Nẵng, bọn Pháp đã tăng quân số lên tới 5000 tên, đóng thành hai cụm: Trạm và sân bay. Một số kiều dân Pháp tập trung về ở tại Ngã Năm. Một bộ phận quân Pháp triển khai lực lượng chiếm 6 kho. Các dấu hiệu chúng khiêu khích bắt đầu xuất hiện. Thấy tình hình phát triển xấu, Xứ ủy Trung Bộ quyết định đưa các Xứ ủy viên về tăng cường cho bộ máy lãnh đạo các tỉnh, sát nhập Quảng Nam và Đà Nẵng thành đơn vị tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng được trên tăng cường cho 3 Xứ ủy viên. Cuối tháng 11.1946, Đà Nẵng tiến hành chia lại địa giới hành chính, thành ba khu như cũ: khu Đông, khu Tây và khu Trung (nội thành).
Để tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến đang đến gần, cấp trên quyết định thành lập Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng. Bộ chỉ huy Mặt trận gồm các đồng chí: Đàm Quang Trung là Chỉ huy trưởng, Nguyễn Đôn và Nguyễn Bá Phát là Chỉ huy phó, Trương Quang Giao là Chính ủy, Nguyễn Quyết và Huỳnh Ngọc Huệ là Phó Chính ủy. Tiếp theo, ủy ban Quân - Dân - Chính sau đổi tên là ủy ban kháng chiến liên tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng cũng được thành lập, do đồng chí Vũ Khương Ninh làm Chủ tịch. Chức năng của ủy ban được quy định là: tổ chức bố phòng, chuẩn bị lực lượng tự vệ ; chuẩn bị công tác tiếp tế, cứu thương, vận động đồng bào đóng góp nuôi bộ đội; và chuẩn bị địa điểm để đưa đồng bào đi tản cư. Ủy ban có hệ thống Ủy ban kháng chiến các cấp từ cấp xã trở lên. Khu an toàn từ Đà Nẵng đi Túy Loan rồi lên Giằng cũng được xây dựng gấp rút.
Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các lực lượng vũ trang được tăng cường. Chế độ chính trị viên trong quân đội được ban hành. Trung đoàn 96 được bổ sung thêm tiểu đoàn 19 (tiểu đoàn Ba-Tơ). Trung đoàn 93 (được xây dựng từ chi đội I trước đây) được điều về khu vực phía nam sông Cẩm Lệ. Các đơn vị bộ đội bắt đầu đi điều tra thực địa, lên phương án bố phòng và tác chiến. Các đơn vị tự vệ chiến đấu cũng tích cực chuẩn bị mọi mặt và phân ra làm ba bộ phận, phụ trách ba loại công việc: dẫn đường phục vụ bộ đội chiến đấu, canh gác bảo vệ tài sản của nhân dân và đưa đồng bào đi tản cư. Chính quyền các cấp lập kế hoạch tản cư cho nhân dân khu vực mình, cử người đi chuẩn bị địa bàn trước, đồng thời cũng lập kế hoạch sơ tán các cơ quan, xí nghiệp kho tàng, tài liệu. Các kế hoạch phá hoại, lập chướng ngại vật để ngăn cản địch cũng được vạch ra.
Ngày 5.12.1946, quân Pháp đổ bộ thêm một nửa lữ đoàn lê dương số 13 và trung đoàn bộ binh lê dương số 3 cùng nhiều vũ khí, xe tăng lên Đà Nẵng. Ngoài biển, chúng có khoảng 10 tàu chiến luôn luôn di động, trong sân bay một số máy bay ở tư thế sẵn sàng cất cánh. Ngày 12.12.1946, tên đại tá Larreque đáp máy bay đến Đà Nẵng lập bộ chỉ huy mặt trận của quân Pháp. Cũng ngày hôm đó, mấy sĩ quan Pháp ngang nhiên lái xe Jeep chạy xộc vào trụ sở Việt Minh Thành (đóng ở đường Bạch Đằng) xé quốc kỳ của ta. Ta phản đối kịch liệt, chúng buộc phải xin lỗi và hứa không tái phạm.
Ngày 15.12.1946, Thành ủy triệu tập cuộc hội nghị mở rộng gồm đủ cán bộ chủ trì các ngành quân, dân, chính, đảng của thành phố, của các khu phố để nghe đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Tổng bộ Việt Minh và đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ thay mặt Xứ ủy phổ biến tình hình toàn quốc; thông báo các vụ khiêu khích của giặc Pháp ở Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Nội chính là dấu hiệu chúng chuẩn bị tấn công xâm lược toàn bộ nước ta một lần nữa và truyền đạt chỉ thị của Trung ương cho các thành phố có quân Pháp chiếm đóng là phải chủ động chuẩn bị mọi mặt để kịp thời đối phó với giặc. Sau hội nghị, các Thành uỷ viên được phân công phụ trách các mặt công tác lập tức bắt tay ngay vào việc triển khai. Công tác chuẩn bị kháng chiến được đẩy thêm một bước. Các đơn vị vũ trang chiếm giữ các vị trí xung yếu, xây dựng trận địa bố phòng. Nhân dân được huy động đi lập các chướng ngại vật. Các gia đình được bí mật phổ biến chuẩn bị tản cư, các ông bà già, trẻ nhỏ, học sinh bắt đầu được đưa ra khỏi thành phố. Những cái cần được sơ tán cũng được sơ tán dần dần : nhà máy in Võ Văn Toản được đưa từ Đà Nẵng lên Trung Phước, các đoàn tàu hỏa cho sơ tán ra Khu 4, bệnh viện Đà Nẵng được chuyển về Vĩnh Điện, hồ sơ tài liệu được phân tán...các cây cầu quan trọng như Thủy Tú, Kỳ Lam, Cẩm Lệ, Câu Lâu, Vĩnh Điện...các công sở nhà ga, nhà đèn, bưu điện...đều được bố trí đặt mìn chuẩn bị phá sập.
Đánh hơi thấy sự chuẩn bị kháng chiến của ta, bộ chỉ huy quân Pháp ở Đà Nẵng gửi công hàm chất vấn chính quyền ta. Ủy ban hành chính thành phố đã khéo léo trả lời chúng, đồng thời ra một thông báo kêu gọi mọi công dân hãy bình tĩnh trước thời cuộc, tránh khiêu khích, đề phòng bị kích động và bị khiêu khích.
Tóm lại, trong hơn một năm, nhân dân Đà Nẵng đã phải đối phó với nhiều loại kẻ thù giữ vững chủ quyền dân tộc, quyền làm chủ quê hương của mình. Khi biết rõ cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược không thể tránh khỏi, nhân dân Đà Nẵng đã chủ động, tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến của mình. Những thành công đó của nhân dân Đà Nẵng đã góp phần đáng kể vào thành công chung của toàn dân tộc ta trong suốt một năm lịch sử hào hùng này.