ĐÀ NẴNG TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (12.1946 - 07.1954)
Cuộc kháng chiến bùng nổ. Một tháng kiên cường chiến đấu giam chân địch (12.1946 - 1.1947)
Ngày 19.12.1946, Ban chỉ huy Mặt trận Quảng Nam Đà Nẵng nhận được bức điện của Ban Thường vụ Trung ương thông báo: 'Giặc Pháp đã hạ tối hậu thư đòi tước khí giới của quân đội, tự vệ, công an ta. Chính phủ đã bác tối hậu thư ấy. Như vậy, chỉ trong vòng 24 giờ là cùng, chắc chắn giặc Pháp sẽ nổ súng', và ra chỉ thị: 'Tất cả hãy sẵn sàng'. Lúc này thế trận bố phòng của ta đã được sắp xếp xong. Trung đoàn 96, ém sát các vị trí đóng quân của địch, tạo thành một vòng cánh cung từ trụ sở ủy ban hành chính, nhà Bưu điện, Ngã Năm, Cổ Viện Chàm đến khu vực chợ Mới. Tiểu đoàn 18 chiếm lĩnh khu vực Cầu Vồng, nhà ga, ngã ba Cai Lang; tiểu đoàn 17 phong tỏa cụm quân địch ở sân bay; tiểu đoàn 19 thì trấn giữ khu vực Nghi An, đèo Hải Vân. Trung đoàn bộ đóng tại ngã tư Yên Khê. Cứ mỗi đại đội chủ lực có một đại đội tự vệ thành phố hoặc dân quân du kích Hòa Vang làm nhiệm vụ phối thuộc chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Đại đội tự vệ chiến đấu của ngành hỏa xa cũng được phân công ở lại nội thành sát cánh chiến đấu với bộ đội. Ở tuyến phòng thủ phía nam sông Cẩm Lệ, trung đoàn 93 cũng triển khai xong đội hình chiến đấu. Một tiểu đoàn được bố trí từ khu vực Non Nước, Mỹ Thị, Miếu Bông, cầu Cẩm Lệ đến Trung Lương. Một tiểu đoàn khác chiếm đóng vùng Thanh Quýt. Còn một tiểu đoàn đóng ở Vĩnh Điện có nhiệm vụ chặn địch không cho chúng vượt sông và sẵn sàng chi viện cho trung đoàn 96 ở Đà Nẵng.
Tất cả đã sẵn sàng đợi lệnh.
Cùng với cả nước, đêm 19.12.1946, ủy ban quân sự Quảng Nam Đà Nẵng nhận được điện thoại của đồng chí Nguyễn Chánh và đồng chí Cao Văn Khánh ở Quân Khu 5 ra lệnh nổ súng tiến công giặc. Lập tức, một cuộc hội nghị liên tịch đặc biệt được triệu tập tại trung đoàn bộ Trung đoàn 96 (ngã tư Yên Khê), bao gồm các đại biểu của Ban chỉ huy Mặt trận Quảng Nam Đà Nẵng, Thường vụ tỉnh ủy và ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh.
Hội nghị đã rà soát lại lần cuối cùng công tác chuẩn bị kháng chiến, thống nhất nhận định về tình hình địch và xác định rõ: nhiệm vụ chủ yếu của quân dân Quảng Nam Đà Nẵng lúc này là chiến đấu giữ chân quân địch, không cho chúng sớm liên lạc với bộ phận quân Pháp ở Huế để tạo điều kiện cho bộ đội ta ở Huế tiêu diệt địch, đồng thời ngăn chặn không cho quân Pháp nhanh chóng tiến về phía nam thành phố. Hội nghị quyết định, đúng 2 giờ sáng ngày 20.12.1946 Đà Nẵng sẽ nổ súng, trọng điểm là đánh chiếm sân bay và tiếng súng ở đây cũng là hiệu lệnh cho các nơi khác đồng loạt nổ súng tiến công địch, chiếm giữ những nơi trọng yếu, không cho quân giặc ứng cứu nhau. Nhiệm vụ nổ súng đầu tiên làm hiệu lệnh tấn công cho toàn thành phố được giao choTrung đoàn trưởng Trung đoàn 96. Hội nghị cũng quyết định ra lệnh phá sập các cây cầu, các cơ sở, các kho tàng quan trọng mà ta đã chuẩn bị từ trước, hạ cây cản đường, tiếp tục tản cư hết số đồng bào còn lại trong thành phố.
Hội nghị họp khẩn trương và kết thúc nhanh chóng để mọi người trở về vị trí công tác của mình. Các đơn vị vũ trang vào vị trí chiến đấu, sẵn sàng nổ súng. Mọi người sốt ruột hướng về phía sân bay chờ đợi. Nhưng mãi tới sáng mà vẫn chưa thấy súng nổ. Những lực lượng bí mật ém sát các vị trí đồn bốt giặc đành phải rút ra ngoài. Yếu tố đồng loạt bất ngờ nổ súng tấn công giặc không còn.
Mãi đến sáng ngày 20 tháng 12, khi nghe tiếng pháo địch và tiếng súng của tiểu đoàn 18 chạm nhau với địch ở Cầu Vồng, đội tự vệ chiến đấu của nhà máy điện liền cho nổ bom phá hoại nhà máy. Trung đoàn 93 nổ mìn phá sập các cầu Cẩm Lệ, Phong Lệ. Công binh dùng địa lôi phá cầu Thủy Tú. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Đà Nẵng thực sự bùng nổ vào hồi 8 giờ sáng ngày 20.12.1946.
(Còn tiếp)