ĐÀ NẴNG TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (12.1946 - 07.1954)

Cuộc kháng chiến bùng nổ. Một tháng kiên cường chiến đấu giam chân địch (12.1946 - 1.1947) (Tiếp theo)

Suốt ba ngày kịch chiến là suốt ba ngày quân dân Đà Nẵng viết tiếp bản hùng ca giữ nước. 'Thành Thái Phiên, tắm mình trong khói lửa, đất anh hùng lần nữa quyết hy sinh', câu ca ấy ra đời, cứ cất cao, ngân vang mãi mãi. Cả thành phố trở thành một trận tuyến, cả thành phố chung một ý chí. Nam học sinh thì xung phong gia nhập vệ quốc quân, tham gia vào tự vệ chiến đấu. Nữ học sinh thì xung phong vào đội cứu thương, tiếp tế, chăm sóc thương binh. Những đồng bào không thể tham gia trực tiếp chiến đấu thì thực hiện tản cư triệt để (chỉ có một số Hoa kiều là trốn ở lại). Triệt để bất hợp tác với giặc, triệt để 'tiêu thổ kháng chiến'. Những vật dụng, tài sản riêng lúc này cũng vứt ra mặt đường làm công sự chiến đấu, thành những vật chướng ngại ngăn bước tiến công của quân thù. Nhũng căn nhà bị đục tường, khoét chiến hào nối liền các phố để bộ đội, tự vệ luồn lách diệt địch. Không ai tiếc của, không ai nề hà sự hy sinh. 

Qua 3 ngày địch mới chiếm được thành phố, nhưng đó là một thành phố 'chết'. Không có điện, không có nước, không có người. Trong khi đó, để bảo toàn lực lượng, phía ta chủ động rút tất cả các đơn vị ra khỏi trung tâm thành phố. Một tuyến phòng thủ mới được bố trí như sau: tiểu đoàn 17 chiếm giữ Phong Lệ, Nghi An; tiểu đoàn 18 thì ở Hòa Mỹ, ngã tư Thanh Khê; tiểu đoàn 19 lại chia hai bộ phận, một đại đội ở về phía Đa Phước, còn một đại đội ở về phía đèo Hải Vân. Trung đoàn 93 vẫn bám trụ phòng tuyến nam sông Cẩm Lệ, từ Phong Lệ đến Non Nước, ngăn không cho địch vượt sông. Các đơn vị tự vệ tiếp tục bám sát các đơn vị bộ đội, cùng phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Với một hệ thống phòng tuyến như vậy, quân ta tập trung ngăn không cho địch đánh lan về các vùng nông thôn và mở đường ra Huế. 

Từ ngày 23.12.1946 đến ngày 7.1.1947, địch có thêm viện binh từ Pháp sang, chúng điên cuồng mở nhiều đợt tấn công hòng phá vỡ phòng tuyến của ta. Những trận chiến đấu trong những ngày này diễn ra rất ác liệt vì địch tăng cường thêm pháo binh, điều thêm xe tăng, lại có cả máy bay yểm trợ. Nhưng chúng vẫn không thể tiến thêm được, thế trận giữa địch và ta vẫn chỉ giằng co, địch tiến ta cố thủ, địch lui ta chiếm lại. Ngày 7.1.1947, để phá thế giằng co đó, một mặt địch đổ bộ lên Phú Lộc, bọc phía Đa Phước vô Đà Sơn, Đại La; mặt khác ở mũi chính diện, chúng tổ chức 3 mũi, một mũi theo quốc lộ số I tiến lên Hòa Mỹ, một mũi đánh Nghi An và một mũi đánh Hòa An, hòng đưa quân ta vào thế bị bao vây. Các chiến sĩ ta chiến đấu hết sức dũng cảm, nhiều trận đánh giáp lá cà xảy ra. Ở Đa Phước, ta diệt 140 tên, làm bị thương 150 tên, phá hủy 3 xe quân sự. Vòng vây của địch không sao khép kín lại được và quân ta đã tổ chức rút ra ngoài. Tuy vậy, sau đợt tấn công này địch đã mở rộng phạm vi chiếm đóng của chúng từ Cẩm Lệ ra tới chân đèo Hải Vân. 

Sau khi rút ra, quân ta lại tổ chức tuyến phòng thủ mới. Tiểu đoàn 17 chia quân ra đóng từ Cẩm Lệ, Thạch Nham, Nghi An, Phước Tường đến Đại La. Tiểu đoàn 18 đóng phía Tùng Sơn, An Ngãi. Tiểu đoàn 19 vẫn đóng ở phía đẻo Hải Vân, Nam Ô, Trung Sơn, Quan Nam. Số tự vệ chiến đấu thì chọn lựa lại, biên chế thành một tiểu đoàn đóng ở Đông Sơn, An Lợi, số còn lại ta đưa vào vùng tự do, tản cư theo gia đình. Từ các vị trí của tuyến phòng thủ này, ta tổ chức những bộ phận nhỏ đột nhập vào thành phố đánh địch. Đạn pháo 75 ly của ta liên tiếp rót vào khu vực sân bay. Biệt động thành thì đặt mìn lên đầu máy tầu hỏa rồi cho chạy vào thành phố, nhưng vì tính toán không chính xác, nên tàu chưa chạy đến vị trí đã định thì mìn đã nổ. 

Ngày 2.1.1947, địch điều động một lực lượng lớn, khoảng 200 tên vượt sang khu Đông, rồi chia làm hai mũi, một mũi đánh về phía Sơn Trà dồn lực lượng ta vào núi, một mũi đánh về phía Non Nước hòng chia cắt lực lượng ta. Địch phối hợp cả thủy lục không quân tiến công nên trận chiến xảy ra rất ác liệt. Số dân quân, tự vệ của khu Đông lúc đầu có tới 3-5 đại đội, sau điểm lại chỉ còn 4 tiểu đội. Không chịu nổi, anh em phải rút chạy tán loạn vào Quảng Cái, Tứ Câu, nhưng một bộ phận vẫn bị vây lại ở I-lô, không thoát ra được. Về sau ta phải dùng thuyền đột nhập vào mới chở được anh em ra ngoài an toàn. Bộ chỉ huy Mặt trận cũng kịp thời điều ngay một tiểu đoàn của trung đoàn 93 đến tiếp chiến, nhờ thế mặt trận Non Nước vẫn giữ được. 

Ngày 17.1.1947, sau khi đã chiếm được nội thành, chiếm được khu Tây thành phố, quân Pháp dùng 2 tiểu đoàn bộ binh từ Nam Ô, 8 máy bay, 12 tàu chiến đổ bộ lên Lăng Cô, kiên quyết đánh khai thông đèo Hải Vân để mở đường giải vây cho bọn ở Huế. Trận chiến diễn ra hết sức ác liệt, trong suốt 3 ngày trên đường đèo. Bom, pháo của cả hai bên nổ rung chuyển cả rừng núi. Quân ta dựa vào thế núi hiểm trở và đường hầm của xe lửa đánh bật nhiều đợt tấn công của địch. Từ các đỉnh núi cao, các chiến sĩ ta còn lăn đá, thả lựu đạn, thả đầu đạn pháo 105 ly xuống nổ tung trên đầu giặc. Kết quả, 200 lính Âu - Phi bị diệt, hàng trăm tên khác bị thương. Quân Pháp chiếm được đường đèo, liên lạc được với bọn ở Huế. Quân ta được lệnh rút lui để bảo toàn lực lượng. 

Như vậy, sau ba ngày diễn ra chiến sự ác liệt địch mới chiếm được nội thành, nhưng suốt một tháng ròng rã chúng bị giam chân trong cái thành phố 'chết' ấy, không sao vượt qua sông Cẩm Lệ mà tiến về phía nam được. Quân dân Đà Nẵng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra từ buổi đầu, trước khi bước vào cuộc kháng chiến: đã bảo toàn được lực lượng, đã tạo điều kiện cho nhân dân toàn tỉnh có thời gian chuyển vào tình thế chiến tranh. Đánh giá thắng lợi của một tháng kháng chiến đầu tiên ở Đà Nẵng, đồng chí Phạm Văn Đồng, đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ đã biểu dương : 'So sánh với toàn quốc, mặt trận Đà Nẵng được liệt vào hạng đánh mạnh nhất và dẻo dai nhất'. Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, đồng chí còn tặng cho quân dân Đà Nẵng lá cờ thêu hai chữ 'Giữ vững'. Vậy là, quân dân Đà Nẵng đã thực hiện đúng như lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch: 'Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ'.

(10/12/2003)
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

LƯỢT TRUY CẬP
2810545