ĐÀ NẴNG TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (12.1946 - 07.1954)

Trở về thành phố, từng bước triển khai thế trận kháng chiến toàn dân, kháng chiến toàn diện và kháng chiến trường kỳ (1.1947 - 12.1947) 

Để tạo điều kiện cho các lực lượng vũ trang chiến đấu tiêu diệt và giam chân địch trong thành phố, ngay từ trước khi tiếng súng kháng chiến bùng nổ, ta đã có kế hoạch tản cư các cơ quan và nhân dân ra khỏi thành phố. Thực hiện kế hoạch đó, từ trước 2 giờ sáng ngày 20.12.1946, các bộ phận của Ủy ban hành chính thành phố đã được dời về tập trung tại trụ sở Ủy ban hành chính huyện Hòa Vang (đóng ở chợ Mới tức chợ Hòa Thuận hiện nay), rồi rút qua bến đò Xu về Vĩnh Điện, rồi đi tiếp lên Ái Nghĩa. Bộ phận thường trực của Ủy ban hành chính thành phố ban đầu đóng ở Hội An và Duy Trinh cùng với uỷ ban hành chính Quảng Nam, sau về đóng ở Túy Loan, Ái Nghĩa cho gần mặt trận. Các cơ quan của khu Trung thì ở An Thới, Dương Sơn (Hòa Tiến); khu Tây và Hỏa xa đóng ở Đà Sơn; còn khu Đông có điều kiện nên vẫn bám trụ trên địa bàn địa phương mình. Thành ủy cũng dời về đóng ở Túy Loan (Hòa Vang). 

Hầu hết nhân dân nội, ngoại thành đều thực hiện triệt để tản cư, 'tiêu thổ kháng chiến', chỉ có một số Hoa kiều trốn ở lại. Một số ông, bà già và em nhỏ được tổ chức cho đi từ trước khi xảy ra chiến sự. Đến khi tiếng súng kháng chiến bùng nổ, việc tản cư được tiến hành ồ ạt. Dưới làn đại bác của giặc, nhân dân được sự hướng dẫn của các bộ phận tự vệ chiến đấu, tản về các vùng nông thôn ở Hòa Vang, Điện Bàn và lên vùng núi. Một số đồng bào ở lại để được tham gia dẫn đường cho bộ đội đánh giặc, phục vụ chiến đấu. 

Ở các vùng được nhận nhiệm vụ tiếp cư, có sự chuẩn bị từ trước, nhân dân hết lòng giúp đỡ đồng bào mình nơi ăn, chốn ở, để phần nào ổn định cuộc sống. Bát cơm, bát cháo, mớ rau, củ sắn san sẻ cho nhau. Biết bao hình ảnh thật cảm động. Nhân dân khu Đông tản cư về các xã vùng ven biển, nhiều gia đình vào tận Cửa Lở để tiếp tục sinh sống bằng nghề đánh bắt cá. Những hộ tiểu thương thì tìm đến những nơi buôn bán tập trung như Tam Kỳ, An Tân, Bến Ván, Bồng Sơn. Dù ở đâu, đồng bào tản cư cũng được cán bộ thành phố lui tới thăm hỏi, chính quyền sở tại hết lòng chăm sóc. Ở khu Đông chính quyền ta còn tổ chức tốt việc bảo quản tài sản của dân đi tản cư. Lúa, gạo của các gia đình để lại khi ta đem đong cho bộ đội, tự vệ ăn đều có ghi chép rõ ràng vào biên lai để lại. Đêm đêm khi dân trở về thu hoạch hoa màu họ thấy không mất mát gì nên rất yên tâm. Ở những nơi mới đến đồng bào tản cư không chỉ lo ổn định cuộc sống của mình, mà còn hăng hái tham gia phá đường, cắt dây điện thoại, tiếp tế, cứu thương, úy lạo bộ đội. Sự hòa nhập giữa đồng bào Đà Nẵng tản cư với đồng bào của các địa phương cũng dần dần được xác lập và đồng bào Đà Nẵng tản cư cũng có nhiều đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển ở các vùng tự do. 

Dù sao, cuộc sống của đồng bào tản cư cũng gặp rất nhiều khó khăn. Những thiếu thốn của đời thường nảy sinh, nhiều mặt gay gắt, vượt quá khả năng giải quyết của các cấp chính quyền và sự giúp đỡ của nhân dân địa phương. Đã có hiện tượng dân bị đói, bị đau mà thiếu thuốc điều trị. Thêm nữa, tâm lý gắn bó với nơi chôn rau cắt rốn, với nếp sống cũ thường làm cho đồng bào băn khoăn, trăn trở. Do đó trong đồng bào bắt đầu nảy sinh nguyện vọng được trở về sinh sống và chiến đấu với kẻ thù ngay tại quê hương mình lúc này đã lọt vào tay giặc. 

Lúc này địch đã chiếm đóng thành phố. Các lực lượng của ta đã rút ra ngoài. Nhưng ta không thể bỏ thành phố cho địch, mà phải tổ chức kháng chiến chống địch ở ngay trong thành phố, trên địa bàn thành phố. Vì thế, ta lập một Ban đặc vụ quân sự do Đoàn Tiềm phụ trách, trực thuộc thẳng Liên Tỉnh ủy. Ban có khoảng 1 đại đội, mỗi trung đội phụ trách một khu phố với nhiệm vụ chủ yếu là nắm tình hình, diệt tề trừ gian, xây dựng cơ sở cách mạng và tiến hành địch vận. Một bộ phận của Ban với khoảng 15 chiến sĩ do Nguyễn Hữu Khoan chỉ huy, trực tiếp bám lại nội thành. Nhưng lúc này thành phố không có dân, chỉ có địch nên chúng rất dễ phát hiện ra ta và ta hoạt động cũng rất khó. Ban ngày các chiến sĩ ta phải chui xuống các lỗ cống ẩn nấp, tối đến mới lên hoạt động. Cách hoạt động này ít hiệu quả mà cũng không thể tiếp tục lâu dài. Cho nên, được một thời gian, Ban chỉ huy và Thường vụ Tỉnh chủ trương đưa dân trở lại thành phố để tạo thuận lợi cho anh em hoạt động.

(Còn tiếp)

(10/12/2003)
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

LƯỢT TRUY CẬP
2810653