ĐÀ NẴNG TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (12.1946 - 07.1954)
Trở về thành phố, từng bước triển khai thế trận kháng chiến toàn dân, kháng chiến toàn diện và kháng chiến trường kỳ (1.1947 - 12.1947) (Tiếp theo)
Về phía địch, sau khi chiếm được thành phố, chúng có âm mưu củng cố thành phố làm bàn đạp đánh ra các vùng nông thôn xung quanh để mở rộng phạm vi chiếm đóng. Do đó chúng cũng cần có dân, cần có những cơ sở vật chất để phục vụ cho những mục tiêu quân sự, chính trị của chúng. Chúng giở nhiều trò mị dân như: cho xe đón rước đồng bào hồi cư, bán gạo rẻ, cấp phát thuốc men, hứa hẹn sẽ che chở cấp giấy tờ, tạo công ăn việc làm cho đồng bào...
Trước tình hình đó, cuối tháng 3.1947, hội nghị Liên Tỉnh ủy đã họp tại Quế Sơn với sự có mặt của phái viên đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ. Dựa trên những văn bản, nghị quyết của Trung ương, hội nghị đã quán triệt hơn nữa đường lối kháng chiến toàn dân, kháng chiến toàn diện, kháng chiến trường kỳ và lấy tự lực cánh sinh là chính. Hội nghị cũng đã phân tích sâu sắc diễn biến tình hình của tỉnh và quyết định vận động đồng bào hồi cư, đồng thời tổ chức những đội công tác mật bám theo dân trở về để hoạt động trong vùng địch. Củng cố lại chính quyền, củng cố lại bộ máy Đảng và các đoàn thể quần chúng để thực hiện tốt hơn nữa đường lối kháng chiến của Trung ương.
Thực hiện quyết định của Liên Tỉnh ủy, ngày 8.4.1947, Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng triệu tập anh em cán bộ Đà Nẵng về dự hội nghị tại Trà Kiệu (Duy Xuyên), quyết định thành lập Ban cán sự Đà Nẵng. Tiếp đó, Ban cán sự Đà Nẵng lại có cuộc họp để triển khai những công việc cụ thể của thành phố. Cuộc họp quyết định vận động đồng bào Đà Nẵng hồi cư, đưa cán bộ về theo đồng bào để nắm dân, tổ chức kháng chiến. Củng cố các cấp chính quyền Đảng bộ thành phố, thay số cán bộ bỏ việc chạy dài theo gia đình, nếu cần thì xử lý, giáo dục họ. Cán bộ về Đà Nẵng hoạt động sẽ làm luôn cả công tác Đảng, công tác chính quyền và xây dựng lực lượng vũ trang. Về phân chia các đơn vị hành chính, thành phố Đà Nẵng vẫn chia thành 3 khu như cũ: khu Trung, khu Đông và khu Tây. Mỗi khu có chính quyền khu, về Đảng thì thành lập chi bộ. Các thành viên trong Ban cán sự thành phố được phân công cụ thể, mỗi người phụ trách mỗi khu. Cuộc họp quyết định lấy khu Đông làm trọng điểm xây dựng khu an toàn và làm bàn đạp đứng chân cho các hoạt động vào nội thành. Lúc này, lực lượng tự vệ thành thoát ly hẳn gia đình để chiến đấu cũng khá phát triển: khu Trung có 1 trung đội, khu Tây có 2 tiểu đội và khu Đông cũng có 2 tiểu đội.
Sau cuộc họp, anh em cán bộ và tự vệ Thành triển khai kế hoạch về bám địa bàn thành phố. Anh em khu Trung về đứng chân ở Hòa Tiến, khu Tây đứng ngoài đẻo Hải Vân, còn khu Đông thì đứng ngay trên địa bàn của mình. Ban cán sự Đà Nẵng đóng cơ quan ở núi Sơn Trà, gồm 3 bộ phận: bộ phận thường trực ở trên núi, làm việc hàng ngày, có mật danh là Diên An; bộ phận dự bị trên chóp núi có mật danh là Mốt-cu (Mạc - tư - khoa); và bộ phận dưới chân núi, ở gần miếu ông Bồn, có mật danh là Tân - gia - ba. Tuy vậy, các cán bộ của Ban cán sự Thành thường xuống làm việc và ở luôn dưới làng, tại ba địa điểm: nhà bà Tư Muộn (ở Cổ Mân), nhà bà Trần Thị Tý (ở phía sông Hàn) và nhà bà Tư Nhùm (tức Lê Thị Trả, ở An Hải).
Cán bộ Thành và các khu tỏa đi các địa bàn vận động đồng bào hồi cư. Khu Đông có nhiều điều kiện thuận lợi hơn nên ngay từ sau khi mặt trận Non Nước bị vỡ (3.1947), đồng bào đã bắt đầu hồi cư. Tốc độ hồi cư và số lượng hồi cư của khu này phát triển khá nhanh. Các khu khác, khu Trung và khu Tây đồng bào cũng hồi cư dần dần, tuy tốc độ và số lượng không bằng khu Đông. Khi đã có đông đồng bào hồi cư, ở khu Trung ta cho mời hết các cụ lão thành đến họp tại nhà thờ Phước Mỹ để bàn đối sách với địch. Các cụ đều tỏ thái độ kiên quyết không hợp tác với giặc, không làm việc cho giặc và tích cực ủng hộ kháng chiến. Khu Đông thật sự trở thành căn cứ địa cách mạng của thành phố, làm bàn đạp cho các đơn vị công tác vào nội thành. Ở khu Tây, tháng 5.1947 ta cũng tổ chức họp dân tại làng Thanh Khê để bàn công việc kháng chiến. Khu Trung tình hình có khó khăn hơn vì địch rải quân ra đóng nhiều nơi trong thành phố. Ban ngày chúng đi lùng sục khắp nơi, chỉ đến ban đêm chúng mới co cụm về các đồn bốt, không dám đi đâu. Ban đầu, số hồi cư về khu Trung hầu hết không phải là những người dân chân chính, lương thiện. Số dân đích thực mãi sau mới trở về và số lượng cũng không nhiều như các khu khác.
Khi dân mới hồi cư trở về, có một thực trạng xảy ra là dân bị đói. Nhiều gia đình không có cái gì để ăn. Trước tình hình đó, Ủy ban hành chính tỉnh quyết định xuất 3 tấn gạo để cứu đói cho dân, chủ yếu là dân nội thành. Cán bộ, chiến sĩ ta không quản gian nguy mang vác gạo vượt qua các đồn bốt, từ La Bông (Hòa Vang) ra thành phố, đến phân phát cho từng gia đình. Nạn đói qua khỏi, đồng bào rất xúc động, càng thêm tin tưởng, gắn bó với chính quyền với kháng chiến.
(Còn tiếp)