ĐÀ NẴNG TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (12.1946 - 07.1954)
Trở về thành phố, từng bước triển khai thế trận kháng chiến toàn dân, kháng chiến toàn diện và kháng chiến trường kỳ (1.1947 - 12.1947) (Tiếp theo)
Tháng 4.1947 mới chỉ có lực lượng cán bộ về Thành hoạt động, khoảng 11 người, trong đó khu Trung khoảng 5 người với 2 súng trường, 1 súng lục. Tháng 5.1947, có thêm lực lượng tự vệ cũng về. Đoàn cán bộ đầu tiên vào nội thành hoạt động do đồng chí Tiềm trực tiếp phụ trách. Khi đoàn vừa xuống đến xóm bà Két (còn gọi là xóm Đĩ) ở Thạc Gián thì bị số dân xấu theo địch phát hiện và đánh thùng thiếc báo động, phải rút lên Khuê Trung. Sau anh em khu Trung rút kinh nghiệm, một mặt lấy các xã Yến Nê, La Bông làm bàn đạp, ban ngày lo chống địch càn quét, tối đến mới bí mật luồn vào thành phố. Mặt khác, ta lựa chọn một số anh em trẻ, chưa lộ mặt về trước, làm thư ký cho các đại bài gạo để nắm các hộ dân mua gạo, nắm số tay chân làm việc cho địch, nắm tình hình địch và xây dựng chỗ dựa, mở đường cho cán bộ ta vào thành. Dần dần từng bước, ta đã gây dựng được cơ sở. Về sau này, chính Thạc Gián lại trở thành nơi đứng chân hoạt động của các bộ phận công tác của Thành như: Phụ nữ (có mật danh là C.50), chi bộ nhà lao (F40) và tình báo Quân khu 5 (B.29). Ở khu Đông khi cán bộ, tự vệ trở về lập tức gây dựng cơ sở được ngay và đứng chân tại chỗ để hoạt động. Ở khu Tây, tuy anh em chưa đứng chân tại chỗ được, phải dựa vào các vùng ven, nhưng cũng hoạt động rất tốt, khiến bọn địch không dám tự do lùng lội.
Đồng bào hồi cư trở về làm cho kháng chiến có lực lượng nhân dân tại chỗ, do đó có cơ hội tốt hơn để phát triển. Nhưng đối với âm mưu thống trị lâu dài, bọn thực dân đẩy mạnh tổ chức bộ máy ngụy quân, ngụy quyền, biến thành phố thành một căn cứ quân sự lớn của chúng. Những hoạt động chủ yếu của địch kể từ khi chúng chiếm được thành phố cho đến hết năm 1947 như sau:
Về quân sự, địch tập trung lực lượng, tổ chức những cuộc tấn công lớn để mở rộng phạm vi chiếm đóng ra các vùng xung quanh thành phố, nhất là về phía tây bắc Hòa Vang và phía nam sông Cẩm Lệ trở vào. Được thêm viện binh từ Pháp và các thuộc địa châu Phi sang, ngày 3.3.1947 địch mở cuộc tấn công ồ ạt với hai gọng kìm, một ở phía tây bắc Hòa Vang dọc theo chân núi Bà Nà và đường 14B đi Ái Nghĩa, một ở Non Nước, Hội An, Vĩnh Điện. Quân dân ta đã chiến đấu anh dũng, nhưng cuối cùng, trưa ngày 14.3.1947 chúng đã chiếm được thị xã Hội An. Kết thúc đợt phản công này, cả một vùng đồng bằng bắc sông Thu Bồn, kéo dài từ Hội An đến Ái Nghĩa đã lọt vào tay giặc. Tiếp theo, tháng 6.1947, quân địch lại mở cuộc tiến công mới, vượt qua sông Thu Bồn, đưa phạm vị chiếm đóng của chúng sang các vùng đất Duy Xuyên, tây Đại Lộc. Cùng với việc tổ chức đợt tấn công để mở rộng vùng chiếm đóng, quân địch cũng tổ chức nhiều trận càn quét để 'bình định' những vùng đã chiếm được. Đà Nẵng trở thành nơi hoạch định các kế hoạch, nơi đồn trú, nơi xuất phát, nơi chi viện tiếp tế cho các đạo quân xâm lược. Chúng xây dựng Đà Nẵng thành một tiểu khu quân sự lớn (trong số 5 tiểu khu của cả địa bàn Quảng Nam Đà Nẵng), có phạm vi phụ trách từ Miếu Bông đến Liên Chiểu, với một lực lượng cỡ trung đoàn, chia làm 7 vị trí chiếm đóng, do tên đại tá Ma-ri-ôn chỉ huy. Đó là chưa kể 1 lữ đoàn bảo vệ đoạn đường sắt (GVF) Đà Nẵng - Huế. Từ Đà Nẵng, các đạo quân của địch tỏa đi các nơi đã gây bao đau thương, tang tóc cho nhân dân ta trong toàn tỉnh. Theo thống kê chưa đầy đủ, trong năm 1947, trên địa bàn Quảng Nam Đà Nẵng, quân Pháp đã giết 6.635 người, làm bị thương 456 người, bắt 918 người, 2914 phụ nữ bị hãm hiếp, 16.115 người bị chết đói, chết đau và số tài sản chúng cướp phá, thiêu hủy trị giá tới 276 triệu đồng lúc đó.
Về chính trị, địch áp dụng chế độ thống trị nhượng địa cũ. Người Pháp cai trị trực tiếp. Cơ quan có quyền hạn tối cao đối với thành phố là Tòa Đốc Lý, trong đó có một viên Đốc lý và một viên Phó Đốc lý. Bên dưới có thông giám, đề lại để theo dõi các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa. Các nha hành chính, bang tá, sở mật thám, tòa án, nhà tù... cũng được lập lại. Bên cạnh là hệ thống tổ chức tay sai người Việt. Phụ tá cho Đốc lý còn có một Ủy ban thành phố (commission municipale). Đốc lý kiêm luôn chức Chủ tịch Ủy ban thành phố và nắm luôn cả bộ máy đàn áp. Dưới cấp thành phố, chúng vẫn duy trì cấp tổng và Lý trưởng trực thuộc thẳng với Đốc lý, chịu trách nhiệm trước Đốc lý. Chúng tìm cách tập hợp bọn tay sai cũ, bọn cường hào ác bá có nhiều tội ác, bị nhân dân đánh đổ trong Cách mạng Tháng Tám, bọn lưu manh côn đồ thích ăn ngon mặc đẹp để lập lại các hội tề tạo lớp tay sai đắc lực cho chúng. Bên cạnh việc sử dụng các biện pháp khủng bố ác liệt, chúng còn dùng nhiều thủ đoạn chính trị thâm độc để chia rẽ nhân dân với chính quyền cách mạng của mình, phá hoại sự ủng hộ của nhân dân cho cuộc kháng chiến và rẽ chia lương giáo, gây mâu thuẫn nội bộ giữa các tôn giáo khác nhau...
Về kinh tế xã hội, chúng cho mở lại các chợ, dùng nhiều kế hoạch để khôi phục nhanh chóng các cơ sở công nghiệp phục vụ cho chiến tranh. Chúng cho chuyển 500 công nhân từ Nam Bộ và Thừa Thiên đến Đà Nẵng, đồng thời, để lôi kéo số công nhân cũ có tay nghề cao tiếp tục làm việc, chúng áp dụng chế độ lương cao đối với họ và lại cho họ được truy lĩnh lương kể từ ngày Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945). Bởi thế, đội ngũ công nhân lao động ở Đà Nẵng tăng trưởng khá nhanh. Nhiều công nhân cũ cũng trở lại làm việc. Thợ phụ cũng được hưởng mức lương tới 135-150 đồng, còn lao động công nhật thì được trả 12 đồng với nửa ký gạo/ngày. Tháng 1.1947 chúng cho công ty Sipéa nhận đấu thầu khôi phục lại nhà máy điện. Mười ngày sau nhà máy hoạt động, với 3 máy, tổng công suất đạt 400 kwh, nhưng cũng mới chỉ cung cấp được cho những khu vực quan trọng, trong phạm vi không quá 4 km. Cuối năm 1947 chúng tập trung sửa chữa và mở lại đoạn đường sắt từ Đà Nẵng ra Huế, sau đó kéo dài ra tới Đông Hà. Cầu cống bị ta phá hoại cũng được sửa chữa, Đề-pô và nhà ga Đà Nẵng hoạt động trở lại. Sân bay, bến cảng cũng được tu bổ, nạo vét và mở rộng ít nhiều.
(Còn tiếp)