ĐÀ NẴNG TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (12.1946 - 07.1954)
Duy trì và phát triển lực lượng, từng bước đưa cuộc kháng chiến tiến tới (1948-1949)
Thắng lợi to lớn của ta ở Việt Bắc trong chiến dịch Thu Đông năm 1947 đã làm cho cục diện chiến trường cả nước thay đổi hẳn. Quân Pháp phải từ bỏ chiến lược 'đánh nhanh thắng nhanh', chuyển sang chiến lược đánh lâu dài, thực hiện chính sách 'lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt' là căn bản, chuyển từ mở rộng vùng chiếm đóng sang củng cố vùng chiếm đóng, đồng thời tăng cường phá hoại ta về kinh tế, chính trị, củng cố ngụy quyền, phát triển ngụy quân và tranh thủ viện trợ Mỹ.
Tình hình đó tác động sâu sắc đến toàn tỉnh ta nói chung, Đà Nẵng nói riêng. Nhằm mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành một hậu phương an toàn cho chúng, trong hai năm 1948-1949, quân Pháp ráo riết thực hiện kế hoạch 'bình định' thành phố. Trước hết, ở trong nội thành, chúng xây dựng thêm một loạt đồn bốt, trấn giữ những vị trí xung yếu những ngả phố quan trọng. Ở ngoại thành và vùng ven chúng cũng nống ra, đóng thêm nhiều đồn. Chỉ tính trên tuyến ranh núi từ đèo Hải Vân đến Đại Lộc, các đồn bốt Pháp đã xếp thành một vòng cung kéo dài từ Phò Nam, Quan Nam, gò ông Tự, gò Khu ốc, kho chè Tùng Sơn, nhà thờ An Ngài Tây, Phú Thượng, Đông Sơn, Thái Lai đến Túy Loan, Gò Cà... ở những vùng trọng điểm, đồn bốt giặc càng dày đặc. Riêng xã Hòa Liên cũ nằm trên đoạn đường từ Nam Ô ra tới đèo Hải Vân đã có 12 cứ điểm; Hòa Tiến 9, Hòa Quý 6. Dọc đoạn đường giao thông từ Đà Nẵng đi Huế, cứ khoảng 2 km có một bót gác. Khu Đông năm 1948 địch cũng bắt đầu đóng đồn xây bót (An Hải, Mỹ Thị, Mỹ Khê, Nam Thọ và I-lô của hải quân). Ở khu Tây chúng đóng thêm đồn Xuân Hòa.
Năm 1948, 1949 cũng là những năm quân địch ở Đà Nẵng ráo riết tổ chức ngụy quân, củng cố ngụy quyền. Riêng năm 1949 chúng đã bắt 2000 thanh niên Quảng Nam Đà Nẵng đi lính, thành lập tiểu đoàn Võ Tánh (Việt binh đoàn), với nhiều đội lính biệt kích, com-man-đô, gồm toàn những tên lưu manh, côn đồ. Ở các địa phương thì chúng thành lập các đội 'nghĩa dũng', 'hương vệ'. Quân số địch từ 6000 tên tăng lên 7000 tên, có trang bị vũ khí đầy đủ và hiện đại. Với lực lượng có trong tay, chúng liên tục mở những cuộc càn quét, đánh phá các khu du kích, nơi các lực lượng ta đứng chân để vào thành phố hoạt động; đồng thời, dồn dân về bao bọc quanh các đồn bót, tạo ra các dải 'đất chết', 'đất trắng' để ngăn cách giữa đồng bằng và miền núi, giữa thành phố với nông thôn, tách hẳn sự liên hệ giữa nhân dân với căn cứ kháng chiến của ta. Trên 10 nghìn ha đất của vùng tây và tây bắc Hòa Vang trở thành một vùng hoang vu, trơ trọi vì chính sách ba sạch của giặc: đốt sạch, giết sạch, phá sạch. Có trận càn ở các xã dọc sông Cẩm Lệ địch giết tới hơn 200 người. Nhiều thôn hàng ngàn dân, trong vòng 2 năm chỉ còn sót lại vài trăm. Mổ bụng, chặt đầu, moi gan, hãm hiếp phụ nữ, xé xác trẻ em rồi vứt vào lửa... bọn chúng không từ một hành động dã man nào để khủng bố, hòng đè bẹp ý chí kháng chiến của nhân dân ta. Chúng o ép bắt nhân dân ta phải lập tề, phải ly khai kháng chiến. Các cuộc hành quân tảo thanh xung quanh Đà Nẵng xảy ra như cơm bữa. Hàng ngày, phi pháo địch liên tục bắn phá suốt dọc đường Đà Nẵng - Huế.
Nhằm phục vụ cho mưu đồ 'Bình định' thành phố, trong 2 năm 1948, 1949 địch củng cố, mở rộng một số cơ sở công kỹ nghệ. Nhà ga Đà Nẵng cùng tuyến đường sắt Đà Nẵng đi Huế được tu bổ lại, đưa tổng số công nhân đường sắt vào đầu năm 1948 lên khoảng 350 người. Nhà máy điện giữ mức ổn định về số lượng công nhân từ cuối năm 1947 là 60 - 70 người, nhưng cuối năm 1949 công nhân ta tổ chức phá hỏng 1 máy phát điện nên chỉ còn 2 máy hoạt động và công suất điện cũng giảm từ 400 KWh vào năm 1947 xuống còn khoảng 300 KWh vào cuối năm 1949. Sân bay Đà Nẵng được mở rộng và nâng cấp. Nếu năm 1947 tại đây mới chỉ có 28 chuyến bay đến với tổng số 698 hành khách và 30 chuyến bay đi với 695 hành khách, thì năm 1948 đã có 348 chuyến đến với 4390 hành khách và 418 chuyến đi với 4633 hành khách. Cảng Đà Nẵng cũng được tăng thêm số lượng cầu tàu. Các bến được nạo vét để cho tàu thuyền đi lại vận chuyển tốt hơn. Các hãng buôn được mở lại, nhưng chúng cấm không cho bán hàng hóa, nhất là thuốc chữa bệnh, vải sợi, văn phòng phẩm ra vùng tự do.
Khi địch mới chiếm được Đà Nẵng, chúng tỏ ra dễ dãi để gom dân. Đến khi đưa dân về, chúng trở mặt o ép, buộc dân ta phải tố giác cán bộ kháng chiến. Đối với công nhân cũng vậy Năm 1948, lương công nhân cảng còn được 200 đồng/tháng, công chánh 200 đồng/tháng, công nhân điện 400 đồng/tháng, nhưng đến năm 1949 tất cả đều giảm... lương công nhân điện chỉ còn 200 đồng/tháng. Từ năm 1949 trở đi, cuộc sống của người công nhân vùng tạm chiếm trở nên bi đát nhiều mặt. Tai nạn lao động như cơm bữa. Người đến xin việc rất đông, công nhân phải làm khoán rất vất vả, lại thêm thuế khóa nặng, đồng Đông Dương mất giá, nên tiền lương thực tế của họ giảm sút chỉ còn một nửa.
(Còn nữa)