ĐÀ NẴNG TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (12.1946 - 07.1954)
Duy trì và phát triển lực lượng, từng bước đưa cuộc kháng chiến tiến tới (1948-1949) (Tiếp theo)
Trước những hoạt động chống phá quyết liệt của địch, vấn đề căn bản của ta lúc này đặt ra là, làm sao có thể duy trì được lực lượng, giữ gìn được cơ sở để từng bước tạo thế tiến lên cho cuộc kháng chiến. Tháng 1.1948, Đà Nẵng cử đại biểu đi dự hội nghị đại biểu Đảng bộ toàn tỉnh tại làng Chánh Lộc (Thăng Bình) để quán triệt thêm một bước nữa đường lối kháng chiến của Đảng thể hiện cụ thể qua cuốn 'Kháng chiến nhất định thắng lợi' của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh. Trong lúc địch tình gây nhiều khó khăn, đợt học tập đã có tác dụng to lớn. Nó làm cho các đại biểu có thêm nhiều nhận thức mới và thấy được những công việc cần làm cho cuộc kháng chiến.
Sau một ngày học tập, với tinh thần mới, hội nghị đã phân tích cụ thể tình hình các mặt trong tỉnh và đề ra hai nhiệm vụ lớn: Một là, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng bị chiếm, đánh bại kế hoạch bình định, dồn dân, lập tề của địch. Hai là, giữ vững vùng tự do để củng cố, xây dựng thành hậu phương trực tiếp của cuộc kháng chiến. Tiếp sau hội nghị tỉnh, tháng 2.1948, Thành ủy Đà Nẵng tổ chức hội nghị đại biểu toàn thành tại Điện Ngọc (Điện Bàn). Dựa trên kết quả đã đạt được của hội nghị tỉnh, đồng thời căn cứ vào thực tế tình hình Đà Nẵng, hội nghị đề ra nhiệm vụ chủ yếu của năm 1948 là: giữ gìn và phát triển cơ sở; trừ gian diệt tề; xây dựng thực lực cho cuộc kháng chiến, nhất là ở các khu vực nhà ga, nhà đèn, xưởng đóng tàu, lập chi bộ nhà lao và lấy khu Tây làm bàn đạp để lấn xuống khu Phan Thanh cũ. Hội nghị cũng đã bầu Thành ủy mới để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến.
Với phương châm, nhiệm vụ đó, thành phố triển khai các mặt công tác. Về việc trừ gian diệt tề, khi địch buộc nhân dân ta phải lập tề, ta chủ trương mỗi người chỉ làm 15 ngày, mà gọi là đại diện dân chứ không gọi là lý trưởng. Ai đứng ra nhận làm đại diện đều phải có ý kiến của ta. Những lý trưởng do ta nắm cũng không cho họ giữ con dấu. Lâu lâu ta lại mở một đợt gọi là 'phá tề', 'bắt'' họ ra vùng ta rồi lại đưa họ về tiếp tục làm lý trưởng để tạo thế hợp pháp cho họ. Bởi thế, trong những năm này, địch lập tề rất khó khăn. Không có ai tự giác làm tề cho địch. Tuy ở trong lòng địch, nhưng ta vẫn nắm được dân. Nếu có những vụ xô xát trong dân, cán bộ ta đứng ra giải quyết. Dân đói, dân phải ăn nhạt, ta tổ chức đưa gạo, muối từ vùng tự do ra tiếp tế. Dân muốn đi xa phải xin giấy phép của chính quyền cách mạng. Ở khu Đông và khu Tây, ta vẫn tổ chức tập họp nhân dân mít tinh vào ban đêm. Ta còn tổ chức dạy bình dân học vụ. Bà con An Hải, Mỹ Khê, tuy ở sát cạnh đồn địch, nhưng học rất tốt. Kỷ niệm ngày Quốc khánh 2.9.1948, khu Đông còn tổ chức liên hoan. Thỉnh thoảng ta lại mở các tòa án nhân dân để xét xử bọn việt gian bán nước, cảnh cáo những hoạt động phá hoại của chúng. Ở khu Trung tình hình khó khăn hơn, nhưng ta cũng xây dựng được những lõm an toàn. Tại đây, chính quyền ta nắm được lý trưởng của địch, tổ chức được các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, phụ lão, khi cán bộ ta ra vào hoạt động ở các khu lõm đều có tự vệ chiến đấu bảo vệ.
Ở khu Đông, địch bắt dân Tân Thái, Nam Thọ phải dời nhà xuống Phước Trường cho gần đồn để dễ bề kiểm soát. Ta đã lãnh đạo nhân dân lấy cớ phải lo làm ăn kiếm sống không chịu đi. Đến tháng 4.1948, chúng ép dân phải đi, ta lại hướng dẫn cho dân cứ ngày đào hào, rào làng, tối lại dỡ bỏ. Làm mãi không xong, địch cũng chán. Cuối cùng, đến đầu năm 1949, nhân dân tự động nổi dậy dỡ nhà về ở chỗ cũ. Chúng đành chịu.
Cũng với biện pháp đấu tranh hợp pháp, khôn khéo như vậy ta còn lãnh đạo các tầng lớp nhân dân thành phố đấu tranh buộc địch nới rộng quyền sống cho dân. Công nhân biểu tình, đình công khi chủ trả lương thấp, đòi có công ăn việc làm đòi được cải thiện điều kiện làm việc. Ngư dân, tiểu thương, tiểu chủ thì đòi giảm thuế, tự do buôn bán, kinh doanh, tự do kiếm sống bằng nghề của mình... Nhiều cuộc đấu tranh. Đời sống của dân phần nào có được thuận lợi.
(Còn nữa)