ĐÀ NẴNG TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (12.1946 - 07.1954)
Duy trì và phát triển lực lượng, từng bước đưa cuộc kháng chiến tiến tới (1948-1949) (Tiếp theo)
Sau đại hội Đảng bộ thành, Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng cử một đoàn cán bộ ra tăng cường cho Đà Nẵng. Tiếp theo, Tỉnh ủy lại cử một đoàn cán bộ nữa do đồng chí Chế Viết Tấn phụ trách, ra Đà Nẵng để điều tra tình hình. Đồng chí Tấn đã soạn thảo một bản tường trình về vị trí, vai trò và phương hướng phát triển thành phố để trình Tỉnh ủy. Dựa vào bản tường trình đó, tháng 7.1949 Liên khu ủy chủ trương tách Đà Nẵng ra khỏi tỉnh, trực thuộc thẳng vào Liên Khu 5 và ra quyết định lập Ban cán sự mới. Nhiệm vụ của Ban cán sự là chuẩn bị mọi mặt công tác để tách Đà Nẵng ra khỏi tỉnh, với sự tăng cường đúng mức cả về tài chính và về lực lượng cán bộ của tỉnh và của Liên Khu.
Tóm lại, trong hai năm 1948, 1949, Đà Nẵng đã củng cố, xây dựng cho mình một thực lực kháng chiến khá vững vàng. Hệ thống chính quyền, các tổ chức Đảng, các tổ chức quần chúng đều được tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng. Mặc dù trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, gay go và quyết liệt, cuộc kháng chiến của nhân dân Đà Nẵng vẫn có bước phát triển mới. Trong bước phát triển đó, cái biểu hiện trước hết là chiến tranh du kích đã phát huy tác dụng. Nó không chỉ tấn công làm suy yếu địch về mặt quân sự, mà còn tấn công địch cả về kinh tế và chính trị, khiến chúng lâm vào thế bị động lúng túng, nhiều khi không biết xoay xở thế nào. Có nhiều sự kiện, đơn cử như, ngày 30.4.1948 anh công nhân đường sắt Lê Đình Hòe đặt mìn phá tan nồi máy đầu tàu 18-302, loại mới nhất vừa đem từ Pháp sang, mà địch không thể biết ai là thủ phạm. Ngày 19.5.1948, bốn em bé ném 4 quả lựu đạn ở 4 góc chợ Hàn, địch tưởng ta tấn công, rúc còi báo động inh ỏi, lính chui cả xuống cống, còn xe thiết giáp chạy quanh khắp thành phố. Ngày 17.6.1948, 31 du kích khu Tây cải trang làm lính pactidan, dùng xe quân sự chạy vào thành rồi bất ngờ tấn công các bót gác và phối hợp với lực lượng công an bắt sống tên Sùng, phó mật thám gian ác ở Đà Nẵng. Sau đó, du kích khu Tây lại hành quân ra đẻo Hải Vân tấn công đoàn tàu quân sự của địch ở hầm số 3. Đầu năm 1949, đồng chí Nguyễn Văn Xuyến đặt mìn đánh tàu Pétroli tại cảng sông Hàn, lật úp chiếc tàu ngay ở khu vực kho số 3, nhấn chìm toàn bộ hàng hóa của địch. Đêm 18 rạng ngày 19.8.1949, công nhân hỏa xa Trần Văn Nhu cùng em gái là Trần Thị Luận bí mật làm nổ tung mìn hẹn giờ ở kho xăng Liên Chiểu, đốt cháy sạch một triệu rưỡi lít xăng của giặc. Rồi, vào dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn, du kích ta thường đột nhập vào nội thành hoạt động với muôn vàn hình thức phong phú: rải truyền đơn, treo cờ, khẩu hiệu, cảnh cáo bọn tay sai gian ác...
Biểu hiện thứ hai của bước phát triển đó là, trên chiến trường Đà Nẵng đã xuất hiện những chiến dịch có quy mô nhằm đánh tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Ở đây, Đà Nẵng đóng vai trò phối hợp với chủ lực Miền chiến đấu và cung cấp phục vụ chiến dịch. Cụ thể, thực hiện quyết định của Liên Khu ủy 5, suốt ba tháng rưỡi, từ cuối năm 1948 sang đầu năm 1949, quân dân Đà Nẵng đã tích cực cùng đồng bào vùng tây bắc Hòa Vang chuẩn bị cho trận đánh giao thông chiến ở khu vực đèo Hải Vân lần thứ 3. Khó khăn lớn nhất của trận này là khâu cung cấp quân trang, quân dụng cần thiết để phục vụ chiến dịch và vấn đề rút quân sau khi trận đánh kết thúc. Với lòng yêu nước nồng nàn, đồng bào ta đã chắt chiu từng lon gạo, từng lạng thịt, bó rau..., có người còn đi vay tiền mua gạo để đóng góp. Trên 7 tấn gạo của dân đã được tập trung và chuyển đến mặt trận bằng sức người, ở giữa vùng địch mà vẫn hoàn toàn giữ được bí mật. Hai tiểu đoàn chủ lực của ta, tiểu đoàn 19 và tiểu đoàn 79, được điều vào trận đánh. Đúng 6 giờ sáng ngày 24.1.1949 trận đánh mở màn. Cả đoàn tàu quân sự đang chạy trên đường sắt, tại căn hầm số 2 và một đoàn ô tô, thiết giáp, 18 chiếc đang chạy trên đường bộ vượt qua đèo đều bị tấn công cùng lúc. Địch điều thêm quân tiếp viện từ Huế vào, lại bị quân ta chặn đánh, tiêu diệt thêm một số. Cay cú quá, chúng lại cho 62 xe chở 1500 quân đến để phản kích, nhưng quân ta đã rút khỏi trận địa. Kết quả, ta phá hủy một đầu máy, 12 toa xe, 15 xe cơ giới, giết và làm bị thương trên 800 tên, thu nhiều vũ khí, có một đại liên. Bị thua đau, tên chỉ huy Pháp ở Đà Nẵng huy động 8 tiểu đoàn cơ động Âu - Phi chặn hết các hướng rút quân của ta, thu hết các ghe thuyền của đồng bào để vây chặt quân ta trên núi. Sau ba ngày bị vây hãm, đêm 27.1.949, du kích cùng bộ đội địa phương tổ chức nổ súng thu hút địch về một hướng và tập kích cứ điểm Nam Ô nghi binh địch để đồng bào tây bắc Hòa Vang chuyển từ xa đến 30 chiếc thuyền, bí mật đưa 1800 cán bộ, chiến sĩ, 28 cáng thương binh với hàng chục tù binh qua sông, vượt vây an toàn.
Một trận đánh tiêu biểu khác xảy ra trong thời gian quân dân Đà Nẵng tham gia chiến đấu và phục vụ trong chiến dịch Phạm Văn Đồng, từ tháng 7 đến tháng 9.1949. Khi quân địch còn đang mải đối phó với ta ở phía Nam, đêm 19.8.1949, bộ đội chủ lực cùng bộ đội thành phố, công an xung phong, lực lượng cán bộ chính trị thành, tất cả ngót một ngàn người, bất thần đột nhập vào Đà Nẵng, đánh phá các bót gác, đài thiên văn, nhà máy điện, nhà máy nước, sở mật thám và các trụ sở ngụy quân, ngụy quyền. Quân ta đã tung hoành trong thành phố suốt 3 giờ liền, tiến sâu đến tận khu vực bệnh viện Đà Nẵng. Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên địch, trừng trị 200 tên tay sai, phá huỷ nhiều bót gác, nhiều cơ sở vật chất chiến tranh của địch. Kết hợp, ta còn tổ chức nhiều cuộc mít tinh để cổ động cho cuộc kháng chiến. Cuộc mít tinh ở đình Nại Hiên có tới 400 - 500 người dự. Cuộc mít tinh có tổ chức chiếu bóng ở đình Liên Trì Bắc cũng có hơn 600 đồng bào tham gia.
Để làm cho chiến tranh du kích phát huy tác dụng, để lập chiến công trong các trận đánh hay, quân dân Đà Nẵng đã chiến đấu anh dũng, không ngại gian khổ, hy sinh, nhân dân hết lòng ủng hộ kháng chiến. Biết bao tấm gương ngời sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Tiêu biểu là sự hy sinh quên mình của hai cán bộ uỷ ban khu Tây là Đàm Mẹo và Nguyễn Văn Du, của anh công nhân đường sắt Lê Văn Hách và của anh Ngô Tấn Đắc trong trận càn của địch ở Thanh Khê - Hà Khê... Nhưng bên cạnh những thắng lợi, thành công, ta cũng có nhiều sơ suất, khuyết điểm để xảy ra những sự kiện rất đau lòng. Đó là vụ phản bội của tên Nguyễn Văn Nho về cuộc họp ở Non Nước trong năm 1948 khiến cho nhiều người bị bắt, một số cơ sở tốt phải thoát ly lên chiến khu; là vụ bể vỡ ở khu căn cứ Sơn Trà vào đêm 30 tết năm 1948, khiến địch tập kích giết chết 7 chiến sĩ ta, làm bị thương một số khác, chúng lại còn tổ chức triển lãm ở ngay trong thành phố, gây ảnh hưởng xấu về chính trị không nhỏ.