ĐÀ NẴNG TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (12.1946 - 07.1954)

Đẩy mạnh kháng chiến, góp phần cùng cả nước đánh bại thực dân Pháp xâm lược (1950 -1954) 

Trải qua hơn 3 năm cầm súng đánh giặc, cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân cả nước ta đã không ngừng lớn mạnh. Từ sau thất bại ở mặt trân biên giới cuối năm 1950, thực dân Pháp ngày càng lún sâu vào tình thế bị động lúng túng. Tinh thần binh lính sa sút nghiêm trọng. Tâm lý thất bại ngày càng đè nặng trong đầu không chỉ bọn sĩ quan, quân lính đang tham chiến ở Việt Nam, mà ngay cả trong các chính giới Pháp ở 'mẫu quốc'. Trong những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh, trông chờ vào viện trợ Mỹ, bọn Pháp vẫn cố sức vùng vẫy hòng thoát khỏi những đòn trừng phạt của nhân dân ta. Hết kế hoạch 'Bình định cấp tốc, phản công quyết liệt' của Đờlát đờ Tatxinhi lại đến kế hoạch Na-va nhằm gây áp lực quân sự hòng tìm một 'lối thoát danh dự' cho đạo quân xâm lược, nhưng rốt cuộc chúng vẫn không sao tránh khỏi thất bại. 

Trên chiến trường Đà Nẵng, lực lượng kháng chiến của nhân dân đã trưởng thành, công cuộc kháng chiến ở đây đang tiến lên từng bước vững chắc. Bọn thực dân Pháp đã phải nếm trải những thất bại cay đắng. Nhưng cũng như quan thầy của chúng, chúng chưa cam chịu thất bại dễ dàng. Càng về cuối cuộc chiến tranh, chúng càng cố giãy giụa, âm mưu của chúng càng thâm độc, nham hiểm. 

Từ năm 1950, cố vấn Mỹ đã có mặt ở Đà Nẵng. Chúng đi quan sát khu vực Sơn Trà, vùng Non Nước. Sau đó, quân Pháp bắt đầu xúc tiến việc xây dựng Đà Nẵng thành một căn cứ quân sự liên hợp, gồm cả khu hậu cần lớn nhất vùng Trung Đông Dương để góp phần cứu nguy cho đạo quân xâm lược. Phục vụ cho kế hoạch đó một mặt chúng tiến hành củng cố, mở rộng các cơ sở vật chất vốn có, mặt khác chúng xây dựng mới một loạt các hệ thống hạ tầng. Chúng thiết lập khu kho trên địa bàn khu Đông, xây dựng Cầu Đờlát đờ Tatxinhi (Delattre de Tassigny) nối liền nội ô thành phố với bến cảng để dễ dàng tiếp nhận các mặt hàng viện trợ chiến tranh của Mỹ. Chúng tăng thiết bị máy móc cho đề -pô tu sửa lại hệ thống cầu đường ngành đường sắt. Năm 1951, chúng chở từ Pháp sang Đông Dương 14 đầu máy xe lửa loại hiện đại, mang số 141, nhãn hiệu Mikado, có sức kéo mạnh và chạy nhanh hơn nhiều so với các loại đầu máy cũ, trong số đó Đà Nẵng tiếp nhận 5 cái. Ở khu vực sân bay, chúng cho nâng cấp đường băng để loại máy bay B.26 là loại có khả năng hoạt động oanh kích lâu và sâu vào các vùng tự do của ta, có thể lên xuống được. Đồng thời, chúng xây dựng thêm nhà ga, khu vận chuyển hành khách để tăng cường các chuyến bay dân sự. Chúng cướp đất, dời nhà của dân để mở rộng sân bay ra tới Xuân Đán, Phúc Đán, chúng tập trung 4000 dân vùng Hòa Thắng vào hai bên đường quốc lộ số 1 nằm sát sân bay; đồng thời bắt dân Yến Nê lên Cầu Đỏ, dân Cẩm Lệ lên Phú Hòa để lập khu an toàn cho sân bay. Để tăng cường phòng thủ cho sân bay, chúng còn lập trận địa pháo ở Phước Tường, cảng Tiên Sa, cảng Cạn đều được nạo vét cho tàu bè quân sự vận chuyển ra vào dễ dàng. Các bãi để hàng, khu kho chứa hàng, các cầu tàu đều được tu bổ sửa sang. Nhà máy điện Đà Nẵng, từ tháng 2.1950 công ty Sipéa đầu tư thêm 2 máy phát điện, đưa tổng số máy phát lên 4 máy, đạt công suất 700 - 800 Kwh trong suốt thời kỳ từ 1950 -1954 (năm 1949 mới chỉ đạt 300 Kwh). Trong khu nội thành, chúng củng cố lại những con đường cũ, cho mở thêm một số con đường mới như đường Duy Tân, Ông Ích Khiêm, Triệu Nữ Vương... 

Cũng từ năm 1950, quân địch có xu hướng co cụm dần về Đà Nẵng và các vùng ven. Chúng bỏ vùng tây Duy Xuyên, rút một số đồn bốt như Ninh An (Hòa Vang), Cầu Chìm (Đại Lộc)...để tăng cường lực lượng phòng thủ cho thành phố, đưa tổng số quân Pháp chiếm đóng ở Đà Nẵng lên 3.500 tên vào cuối năm 1951. Chúng xây dựng hàng loạt tháp canh kiểu Đờ-la-tua xung quanh các cứ điểm, tăng cường ánh sáng trên các ngả đường ra vào thành phố và trên đoạn đường chiến lược Đà Nẵng đi Huế. Các cửa ngõ ra vào thành phố đều có đồn bốt án ngữ. Các đồn bốt của chúng đều có hầm ngầm kiên cố để chống đạn ĐKZ, bộc phá, mìn ba càng của ta mỗi khi bị bộ đội tấn công. Về mặt chỉ huy, Bộ tư lệnh Pháp đưa Đà Nẵng trực thuộc thẳng vào 'lực lượng bộ binh Trung Việt Nam', chứ không trực thuộc vào 'khu Bắc' (Zône Nord) như trước. Trong nội bộ, chúng lại chia ra thành các phân khu quân sự: Phân khu Trung (đóng ở Quá Giáng, Hòa Vang), Phân khu Liên Chiểu (có tiểu đoàn 29 ngụy quân ở Huế vào đóng) và Phân khu Đông. Một hành lang phòng thủ chung cho Đà Nẵng hình thành, từ Hòa Hành (núi Phước Tường) đến cầu Phong Lệ, xuống vùng Non Nước và ra đến tận Tiên Sa.

(Còn nữa)

(10/12/2003)
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

LƯỢT TRUY CẬP
2809895