ĐÀ NẴNG TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (12.1946 - 07.1954)
Đẩy mạnh kháng chiến, góp phần cùng cả nước đánh bại thực dân Pháp xâm lược (1950 -1954) (Tiếp theo)
Tháng 4.1952, Thành ủy mở hội nghị cán bộ Thành ở Tây Viên (Quế Sơn). Sau một ngày học tập lý luận, hội nghị đi vào bàn các biện pháp chỉnh đốn tổ chức, giảm biên chế và bàn phương thức hoạt động đô thị. Hội nghị chủ trương: nắm, lợi dụng các tổ chức nghiệp đoàn của địch là cần thiết, chỉ lợi cho ta 50% cũng tốt rồi, còn hơn để mặc cho địch, mà ta không nắm được quần chúng nào cả.
Trước đây ta chỉ chủ trương phá các nghiệp đoàn do địch lập ra. Nay ta chủ trương nắm và lợi dụng chúng. Đó là một chuyển biến lớn, đánh dấu một bước tiến trong nhận thức của Đảng bộ Đà Nẵng về công tác công vận. Hội nghị lần này còn bầu bổ sung một số đồng chí vào Thành ủy.
Hội nghị cán bộ cuối năm 1951, đại hội Đảng bộ 3.1952 và hội nghị cán bộ Thành 4.1952 có ý nghĩa rất quan trọng đối với công cuộc kháng chiến của nhân dân Đà Nẵng. Nó đã chỉ cho lãnh đạo và nhân dân Đà Nẵng thấy rõ những khiếm khuyết trong chỉ đạo, những sai lệch trong hoạt động phong trào. Đồng thời nó cũng chỉ ra cho lãnh đạo và nhân dân Đà Nẵng những phương hướng khắc phục, những biện pháp cần thiết phải làm. Từ đó, quân dân Đà Nẵng tích cực triển khai thực hiện. Cuộc kháng chiến của nhân dân Đà Nẵng từ đó cũng có bước tiến toàn diện, vượt bậc.
Cụ thể, từ sau hội nghị 4.1952, đội ngũ biên chế các cơ quan Thành từ 1560 người được giảm xuống còn hơn 200 người. Nhiều cơ quan, ban ngành chưa thật cần thiết, ta kiên quyết giải thể, chỉ để lại những cơ quan, những bộ phận chủ yếu có chức năng sát thực với công cuộc kháng chiến. Cán bộ được tinh giảm, tăng cường kiêm nhiệm và chú trọng chất lượng. Cơ quan Thành cũng từ Quế Phong chuyển ra đứng chân ở Lâm Viên - Hậu Vực để tiếp cận với phong trào. Cán bộ ít làm cho bộ máy gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả hơn. Nhưng ta lại mắc một sai lầm lớn là đưa hàng loạt cán bộ nhân viên ra ngoài biên chế trong tình hình đói kém của năm 1952 mà thiếu quan tâm giải quyết đời sống, công ăn việc làm cho họ. Do đó, ngoài số đông trong họ trở về với gia đình một số khác chạy sang vùng địch, gây ra những tác hại và dư luận không tốt trong nhân dân. Khi cấp trên được biết, ra chỉ thị chấn chỉnh thì đã muộn...
Về công tác Đảng, từ tháng 2.1951, Tỉnh ủy chỉ thị cho các cấp bộ Đảng tạm đình việc phát triển Đảng ở Đà Nẵng, do nhu cầu của phong trào, Thành ủy chủ trương vẫn tiếp tục phát triển đảng viên ở những địa bàn xung yếu trong nội thành và các xí nghiệp. Vì thế, số đảng viên vẫn tăng, tính đến tháng 6.1951, tổng số đảng viên toàn thành đạt tới 2444 người. Tuy nhiên, việc phát triển đảng viên mới không còn có tình trạng ồ ạt, phấn đấu theo chỉ tiêu như trước, mà có sự lựa chọn thử thách kỹ càng, tuân thủ theo điều lệ của Đảng. Đối với số đảng viên đựơc kết nạp từ trước, ta cũng tiến hành rà soát, phân loại lại. Số đảng viên có năng lực, có ý chí chiến đấu, có đủ tư cách phẩm chất, đã qua thử thách thì tổ chức thành một chi bộ riêng. Số đảng viên còn lại, chưa đủ tiêu chuẩn cũng được ghép thành chi bộ để sinh hoạt, nhưng thực chất là tạm để ngoài tổ chức Đảng chính thức để tiếp tục giao nhiệm vụ thử thách. Mỗi chi bộ có một chi ủy, mỗi chi ủy viên phụ trách một tổ Đảng, chi ủy biết mặt nhau nhưng không biết toàn bộ đảng viên trong chi bộ mà chỉ biết đảng viên trong tổ mình phụ trách. Do đó, tổ chức chi bộ rất gọn, rất chặt, có chất lượng và tránh được trường hợp dễ bị bể vỡ lớn.
Công tác gây dựng cơ sở bên trong cũng được chú trọng. Chỉ sau một thời gian, tổng số cơ sở của ta đã lên tới 500. Nhiều đơn vị ngụy quân, nhiều cơ quan ngụy quyền ta cũng xây dựng được cơ sở mật. Ta tổ chức đào nhiều hầm bí mật cho cán bộ ngoài vào hoạt động ở lại. Số khác ta lại bố trí cho vào bằng các con đường hợp pháp. Lực lượng cán bộ vào Thành và ở trong Thành đông hơn, có nhiều điều kiện tiếp xúc với dân, do đó dân vận cũng tốt hơn. Số cơ sở hoạt động đơn tuyến, tự động công tác cũng có nhiều hơn. Từ giữa năm 1953 ta bắt đầu thực hiện việc lợi dụng các tổ chức nghiệp đoàn do địch lập ra, đến năm 1954 ta đã chi phối được khá nhiều nghiệp đoàn kiểu đó, không chỉ trong đấu tranh kinh tế mà cả trong đấu tranh chính trị, nên hạn chế được nhiều sức phá hoại của địch.
Với một loạt sự chuyển hướng về tổ chức và hoạt động như vậy, mặc dù trong 6 tháng đầu năm 1952 địch khủng bố hết sức gắt gao, nhưng ta bị tổn thất ít mà các mặt kháng chiến ở Đà Nẵng vẫn phát triển mạnh mẽ. Có mặt từ trước đến nay còn yếu thì nay cũng trội bật hẳn, như phong trào chống bắt lính, đòi chồng con trở về. Thanh niên có nhiều sáng kiến để trốn đi lính cho giặc: tự hủy hoại thân thể, khai man giấy tờ, di chuyển chỗ ở, chạy ra vùng tự do...Có số đã bị bắt đi thì rủ nhau trốn trở lại. Chị em phụ nữ thì biểu tình đấu tranh, với nhiều lý do hợp pháp khác nhau để giữ chồng con mình. Đặc biệt, có bà mẹ nội ô Đà Nẵng đã nằm lên đường ray xe lửa cản không cho địch chở con em mình ra Huế luyện tập. Lại như phong trào dùng nghiệp đoàn địch để vận động quần chúng đấu tranh đòi quyền lợi thiết thân hàng ngày. Tháng 3.1953, công nhân nhà máy điện đã lợi dụng tổ chức nghiệp đoàn, kiên trì đấu tranh kéo dài suốt cả tháng, đòi chủ phải tăng phụ cấp, cuối cùng chúng phải chấp nhận...
Đà Nẵng đã thành công trong việc nắm tề và sử dụng tề. Hệ thống tề điệp do địch dựng lên không phát huy được tác dụng, nhiều khi lại trở thành bình phong che chắn để tạo thuận lợi cho ta hoạt động. Phong trào chiếm đoạt và phá hoại kinh tế địch cũng vẫn tiếp tục. Tháng 10.1953, cơ sở của ta trong đội cầu đường đã bí mật tháo bù loong và con nêm ở móng cầu, đêm đến lũ về cuốn trôi 2000 thanh tà vẹt gỗ, kéo theo cả chiếc phà chở máy đóng cọc, lao mạnh vào chân cầu An Lỗ trên quốc lộ I, làm sập luôn hai vai cầu này. Công nhân bốc dỡ tìm mọi cách trì hoãn thời gian, hoặc làm đổ vỡ các mặt hàng đã đóng thùng, đóng kiện, hoặc vứt vũ khí, hàng hóa quân sự xuống sông Hàn rồi lại bí mật tổ chức vớt lên để chuyển giao cho cơ sở của ta. Đồng chí Trương Văn Y đã được tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua tại đại hội chiến sĩ thi đua toàn Liên Khu 5 về thành tích cướp đoạt vũ khí địch.
Cán bộ bám sát cơ sở, bám sát phong trào, nằm lại với dân nên công tác dân vận thực hiện tốt hơn. Ở các vùng ngoại thành, nông dân nhiệt liệt hưởng ứng chính sách ruộng đất của Đảng, chia lại công điền, buộc địa chủ phải giảm tô và thoái tô triệt để. Bởi thế, phong trào đấu tranh của quần chúng nổi lên rất sôi động, ở khắp các khu, nhất là từ khi hội nghị Giơnevơ bắt đầu họp bàn về vấn đề Đông Dương. 1500 đồng bào thành phố đã xuống đường đấu tranh đòi Pháp phải chấm dứt chiến tranh, ủng hộ lập trường của phái đoàn ta tại hội nghị Giơnevơ, phê phán thái độ thiếu thiện chí của bọn bù nhìn tay sai.
Chiến tranh du kích phát triển rầm rộ, sôi nổi chưa từng thấy. Nơi nơi đánh giặc, người người đánh giặc, đánh giặc bằng mọi cách, bằng mọi thứ có trong tay. Bọn địch sa vào tình thế vô cùng nguy khốn. Nhiều đồn bốt địch chỉ cách trung tâm Đà Nẵng 20-30 km mà bị phong trào du kích bao vây phải tiếp tế bằng máy bay. Lo sợ du kích ta tấn công, có vùng địch phải bắn pháo sáng suốt đêm. Có đồn giặc bị du kích khống chế chặt chẽ, đến nỗi mỗi lần đi lấy nước cũng phải gọi loa xin phép ta.
(Còn nữa)