ĐÀ NẴNG TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (12.1946 - 07.1954)
Đẩy mạnh kháng chiến, góp phần cùng cả nước đánh bại thực dân Pháp xâm lược (1950 -1954) (Tiếp theo)
Từ 20.7.1953, quân chủ lực của Liên Khu rút khỏi chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng. Nhưng khác với các thời kỳ trước, lần này tuy không có lực lượng chủ lực, chỉ có lực lượng của tỉnh phối hợp, nhưng các đơn vị vũ trang Đà Nẵng vẫn chủ động tấn công địch dồn dập, tổ chức đánh lớn có hiệu quả góp phần đánh bại kế hoạch Át Lăng của địch, cùng cả nước tiến tới đánh bại hoàn toàn giặc Pháp xâm lược. Chỉ trong mấy tháng đầu năm 1954, quân ta đã ba lần tổ chức tiến công tiêu diệt địch trên đoạn đường đèo Hải Vân. Lần thứ nhất vào tháng 1.1954, ta đánh lật nhào 2 đoàn tàu quân sự, bứt rút 3 đồn, cắt đứt giao thông trong nhiều ngày. Lần thứ hai vào ngày 20.3.1954, ta đánh đổ 3 toa tàu chở lính Âu Phi từ Huế vào Đà Nẵng, làm chủ đoạn đường sắt này nhiều ngày. Lần thứ ba vào ngày 6.7.1954, cũng là lần chiến thắng oanh liệt nhất: Lực lượng công binh ta dưới sự chỉ huy của đồng chí Bùi Chát đã lật đoàn tàu 6 toa, chở 600 lính mới từ Pháp sang, rơi xuống vực thẳm. Trước tổn thất cay đắng đó, Bộ chỉ huy Pháp ở miền Trung phải quyết định treo cờ rủ một ngày tại Đà Nẵng và Huế. Còn đồng chí Bùi Chát thì được Quốc hội, Hội đồng Chính phủ tặng danh hiệu Anh hùng quân đội nhân dân.
Tháng 4.1954 tỉnh ủy quyết định mở cuộc tấn công vào khu Đông Đà Nẵng. Trận đánh được giao cho đội đặc công 11, đại đội 64 (Điện Bàn) và lực lượng dân quân du kích khu Đông đảm nhiệm. Cán bộ Thành, cán bộ Khu và các cơ sở của ta đã chuẩn bị suốt 3 tháng trời nơi trú quân cho các đơn vị ở chân núi Sơn Trà và cù lao Xóm Boa, Hóa Sơn (phường An Hải Bắc). Một trăm dân công và bốn chiếc thuyền được huy động sẵn. Các đoàn thể lo quyên tiền, góp gạo nuôi quân. Các mẹ, các chị, các em thiếu nhi chăm sóc các chiến sĩ từng niêu cơm, bát cháo, thể hiện tình quân dân đồng lòng, keo sơn gắn bó.
Công tác chiến trường được chuẩn bị chu đáo. Đúng 0 giờ 30 phút ngày 25.4.1954, các cánh quân đồng loạt nổ súng. Phối hợp với bộ đội, nhân dân cũng xông vào đồn địch với lựu đạn, mã tấu, gậy gộc trong tay. Quân địch hoàn toàn bị uy hiếp ngay từ đầu, sau đó chúng bỏ chạy tán loạn. Hỗ trợ cho các cánh quân đánh đồn bốt giặc, tổ đặc công của Huỳnh Ngọc Châu có nhiệm vụ tổ chức đánh sập cầu Đờ-lát để chặn quân địch tăng viện từ Đà Nẵng sang. Anh em đã bí mật đưa khối thuốc nổ 60 kg (gắn hai ngòi nổ, một nụ xòe và một ngòi điện) đặt vào dưới chân cầu. Huỳnh Ngọc Châu bấm điện, mìn không nổ, lập tức Kiều Sơn Đăng lao mình bơi ra dưới làn đạn bắn như xối của lính gác, giật nụ xòe dự bị, rồi lặn xuôi theo dòng nước một đoạn khá xa thì mìn nổ. Tiếc rằng lượng thuốc không đủ phá sập hẳn cây cầu, mà chỉ làm hư hỏng nó, nhưng cũng chặn được đoàn xe tiếp viện ở lại, đủ thời gian cho quân ta rút lui an toàn.
Trận đánh thu kết quả lớn: diệt 5 đồn An Hải, Cổ Mân, Mân Quang, Tân Thái, Mỹ Khê, bắt nhiều tù binh, thu 20 trung liên, 120 tiểu liên và súng trường. Ta làm chủ khu Đông một đêm. Nhân dân phấn khởi tham gia thu dọn chiến trường, giải tù binh và đưa chiến lợi phẩm về Điện Dương an toàn. Ủy ban nhân dân tổ chức mít tinh, phát động quần chúng, khuyếch trương thắng lợi. Đây là lần đầu tiên ta tổ chức đánh lớn ở Đà Nẵng, là kết quả của sự hy sinh phấn đấu gian khổ trong suốt 9 năm kháng chiến.
Sau thất bại ở khu Đông, quân địch ở Đà Nẵng hoang mang, rệu rã. Bộ chỉ huy quân Pháp buộc phải rút binh đoàn 21 đang tham gia hai cuộc tấn công trong kế hoạch Át Lăng quay về phòng thủ Đà Nẵng. Như thế, quân dân Đà Nẵng đã góp phần phá tan âm mưu tập trung lực lượng đánh ra vùng tự do của Liên Khu 5. Về phía ta, phát huy chiến thắng, quân dân Đà Nẵng sôi nổi lao vào công cuộc chuẩn bị cho cuộc tấn công vào Đà Nẵng lần thứ hai. Nhưng lúc này, trên chiến trường cả nước, quân dân ta đã đập tan tập đoàn cứ điểm phòng thủ lớn nhất của địch ở Điện Biên Phủ, buộc chúng phải ký kết hiệp định Giơnevơ. Theo hiệp định đó, hai bên phải ngừng bắn. Bởi thế, mặc dù mọi công việc chuẩn bị đã sẵn sàng, khí thế của quân dân rất quyết tâm, song theo lệnh của Trung ương, nhân dân Đà Nẵng phải dừng cuộc tấn công lại. Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Đà Nẵng kết thúc. Từ đây nhân dân Đà Nẵng bước sang một tình thế mới.