SỰ THIẾT LẬP BỘ MÁY CAI TRỊ, THI HÀNH CHÍNH SÁCH KHỦNG BỐ, ĐÀN ÁP CỦA CHÍNH QUYỀN MỸ - DIỆM ĐỐI VỚI PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN ĐÀ NẴNG
Mỹ - Diệm gạt bỏ các thế lực thân Pháp, nắm trọn quyền cai trị Đà Nẵng
Việc đưa Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướng ở Sài Gòn là một thắng lợi chính trị của Mỹ đối với Pháp. Mặc dù vẫn giữ ngôi 'Quốc trưởng', nhưng thực tế Bảo Đại không có quyền hành đối với chính phủ của Diệm. Sự thật, sau hiệp định Giơnevơ (1954), Mỹ đã thay thế Pháp độc chiếm miền Nam Việt Nam, mà như mọi người đều biết, Ngô Đình Diệm là con bài của Mỹ do F.Đalet 'rút từ trong tay áo ra' để thực hiện ý đồ của Mỹ.
Âm mưu của Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền ở miền Nam là để có 'một chính phủ mạnh, một chính phủ có thể tiễu trừ các phần tử nổi loạn, bằng một tổ chức cảnh sát mạnh với một đội sen đầm hiệu lực. Do vậy, 'Nước Mỹ nhằm, về chính trị, bảo toàn và củng cố Chính phủ Ngô Đình Diệm, về quân sự, xây dựng một đội quân Việt Nam được tập luyện và được trang bị hơn'.
Để thực hiện mưu đồ nói trên, Mỹ đã giúp Diệm xây dựng và củng cố bộ máy thống trị từ trung ương đến cơ sở hoàn toàn trung thành với Mỹ - Diệm. Trước hết, Mỹ - Diệm dùng vũ lực để gạt bỏ các phái đối lập thân Pháp như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên ở Sài Gòn và Nam Bộ, Đại Việt và Quốc dân Đảng ở các tỉnh miền Trung.
Ở Quảng Nam - Đà Nẵng, sau ngày hòa bình lập lại, chính quyền tỉnh, thành phố và các huyện, xã phần lớn nằm trong tay Quốc dân Đảng. Đây là bọn Quốc dân Đảng phản động do Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc lập ra để làm tay sai cho họ. Sau khi thất bại trong âm mưu 'diệt Cộng, cầm Hồ' những năm 1945-1946, hầu hết bọn Quốc dân Đảng Việt Nam đều chạy theo quan thầy của chúng trở về Trung Quốc. Năm 1949, khi cách mạng Trung Quốc thành công thì Quốc dân Đảng Việt Nam không còn chỗ dung thân, phải trở về nước. Ban đầu, chúng hoạt động bí mật, chủ trương thân Mỹ, thân Tưởng, chống Pháp và chống Cộng. Đến năm 1952, các lãnh tụ Quốc dân Đảng như Nguyễn Trường Tam, Vũ Hồng Khanh, ra mặt hợp tác với Pháp, chống kháng chiến. Hòa bình lập lại Quốc dân Đảng chủ trương hợp tác với Pháp, thân với Mỹ, chống Hiệp nghị Giơnevơ, nhưng cũng chống chính quyền độc tài của Diệm.
Vùng hoạt động có ảnh hưởng lớn nhất của Quốc dân Đảng là Quảng Nam - Đà Nẵng. Lê Trung Chi, tỉnh trưởng Quảng Nam là người của Quốc dân Đảng, còn Lê Tá, Thị trưởng Đà Nẵng là đảng viên Đại Việt, cũng là một phái thân Pháp có quan hệ chặt chẽ với Quốc dân Đảng.
Rõ ràng, những người cầm đầu chính quyền ở tỉnh Quảng Nam cũng như ở thành phố Đà Nẵng lúc đó trở thành lực lượng đối lập của Diệm. Hơn nữa, lúc này ở Đà Nẵng, lực lượng quân sự của Pháp còn rất lớn. Quân đội Liên hiệp Pháp có tới 3 trung đoàn ở Đà Nẵng, đóng xung quanh sân bay Đà Nẵng và Phước Tường. Ty Công an Gia Long vẫn do người của Pháp nắm giữ. Đa số sĩ quan, binh lính Âu - Phi đã chán ghét chiến tranh, đòi hồi hương giải ngũ, chống lại bọn bảo an và nghĩa dũng đi khủng bố nhân dân. Họ không tán thành chủ trương chống lại Hiệp nghị Giơnevơ của Ngô Đình Diệm.
Trong khi đó, lực lượng Mỹ ở Đà Nẵng chưa đủ sức hỗ trợ Diệm gạt ngay các phái thân Pháp. Năm 1954, ở Đà Nẵng chỉ có 250 nhân viên Mỹ làm nhiệm vụ sửa chữa và lái máy bay B.26, C.119 và tham gia điều hành công việc sân bay và công sự phòng thủ.
Phải đợi đến tháng 1.1955, theo thỏa thuận giữa Mỹ và Pháp tại Pari ngày 19.12.1954, Pháp mới rút dần lực lượng của mình và để Mỹ trực tiếp nắm quyền hành ở miền Nam Việt Nam.
Mùa Xuân 1955, Pháp bắt đầu chuyển giao quyền chỉ huy quân sự cho Diệm. Lực lượng Mỹ ở Đà Nẵng bắt đầu được tăng cường. Thành phố Đà Nẵng trở thành một địa bàn chiến lược quan trọng của Mỹ. Mỹ lập lãnh sự tại Đà Nẵng để trực tiếp điều khiển lực lượng Mỹ và chính quyền tay sai ở các tỉnh miền Trung.
Bên cạnh lãnh sự Mỹ còn có các chi nhánh của MAAG, USOM, USIS, CIA giúp chính quyền Diệm xây dựng lực lượng ở Đà Nẵng. Khoảng thời gian này, 20 tàu chiến Mỹ chở vũ khí trang bị cho quân đội ngụy ở Đà Nẵng đã giao thiệp thẳng với Lê Tá và Bùi Quang Sơn, thị trưởng và phó thị trưởng Đà Nẵng không thông qua nhà chức trách Pháp.
Giữa năm 1955, tình hình diễn biến đã có lợi cho Diệm. Cuộc đảo chính do các thống lĩnh thân Pháp như Nguyễn Văn Hinh, Nguyễn Văn Sỹ cầm đầu, bị đập tan. Lực lượng Bình Xuyên, Hòa Hảo, Cao Đài ở Nam Bộ và Đại Việt ở Quảng Trị bị đánh bại, tan rã và đầu hàng Diệm. Tháng 5.1955, lực lượng Quốc dân Đảng dựa vào căn cứ ở miền tây các huyện Thăng Bình, Tam Kỳ, Quế Sơn, Tiên Phước chống Diệm đã ra đầu hàng ở Eo Gió. Quốc dân Đảng ở Đà Nẵng phải chịu khuất phục chính quyền Diệm. Lê Trung Chi, Tỉnh trưởng và các đảng viên Quốc dân Đảng khác làm huyện trưởng các huyện Tam Kỳ, Đại Lộc... lần lượt bị Diệm bắt.
Trước áp lực của Mỹ - Diệm, những tên cầm đầu Đại Việt ở Đà Nẵng như Lê Tá, Võ Văn Quế, trước đây thân Pháp, nay ngả về phía Mỹ và trở thành tay sai của Diệm. Chúng lập danh sách bọn thân Pháp ở Đà Nẵng, giúp cho Diệm loại số này ra khỏi các công sở. Số còn lại được Pháp ngấm ngầm giúp đỡ, đã có lúc chống lại Diệm gay gắt. Nhưng do lực lượng chênh lệch, cuối cùng Quốc dân Đảng và Đại Việt đều bị tan rã và đầu hàng Diệm.
Từ đó, Ngô Đình Diệm nắm trọn quyền cai trị ở Đà Nẵng, bắt đầu củng cố và phát triển bộ máy vững chắc của Mỹ - Diệm. Tháng 10.1955, Diệm bổ nhiệm Nguyễn Văn Toán làm Thị trưởng Đà Nẵng thay Lê Tá.