SỰ THIẾT LẬP BỘ MÁY CAI TRỊ, THI HÀNH CHÍNH SÁCH KHỦNG BỐ, ĐÀN ÁP CỦA CHÍNH QUYỀN MỸ - DIỆM ĐỐI VỚI PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN ĐÀ NẴNG
Chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng bộ máy cai trị và kìm kẹp Đà Nẵng
Vào những năm 1954-1955, dân số Đà Nẵng có khoảng hơn 50.000 người, đại bộ phận là những người buôn bán nhỏ, thợ thủ công, công chức và một số công nhân làm việc ở Đà Nẵng, nhà máy sợi Đà Nẵng, công ty xăng dầu...ở vùng ven thành phố, chủ yếu là nhân dân và ngư dân sinh sống.
Từ tháng 10.1955 chính quyền Diệm tiến hành phân chia lại địa giới và đơn vị hành chính. Lúc này, Đà Nẵng trực thuộc tỉnh Quảng Nam. Đến ngày 31.7.1962, chính quyền Sài Gòn tách tỉnh Quảng Nam thành hai tỉnh: Quảng Nam và Quảng Tín. Thành phố Đà Nẵng trực thuộc chính quyền Trung ương.
Thành phố Đà Nẵng được chia thành 3 quận, đứng đầu mỗi quận có một quận trưởng.
Ở các phường, xã có các hội đồng nắm chính quyền, đứng đầu là một đại diện hội đồng thay cho lý trưởng trước đây. Ngoài ra, mỗi hội đồng có một ủy viên cảnh sát có quyền hạn rất lớn trong việc bắt bớ khủng bố nhân dân.
Để kiểm soát chặt chẽ quần chúng và tăng cường việc kiểm soát lẫn nhau, chính quyền Sài Gòn tổ chức các liên gia, mỗi liên gia từ 15-20 gia đình, do một liên gia trưởng đứng đầu.
Cùng với bộ máy chính quyền, Mỹ - Diệm lập ra một hệ thống tình báo, công an, mật vụ công dân vụ...dầy đặc nhằm kiểm soát, kìm kẹp quần chúng chặt chẽ. Ngoài ra chính quyền Sài Gòn còn tổ chức ra nhiều đảng phái khác nhau nhưng cùng nhằm thực hiện một mục tiêu chung: chống Cộng. Giữ vai trò quan trọng nhất là Đảng Cần lao nhân vị do Ngô Đình Nhu cầm đầu. Hầu hết các chức vụ chủ chốt trong bộ máy chính quyền đều do các đảng viên Cần lao nhân vị nắm giữ. Không một cơ quan quan trọng nào mà không có Đảng Cần lao nhân vị làm tai mắt và nòng cốt cho chính quyền Diệm.
Một chủ trương lớn của Đảng Cần lao nhân vị là dựa vào nghiệp đoàn vùng, cố nắm cho kỳ được Tổng liên đoàn lao công (tức lao động Công giáo), gây thanh thế cho Tổng liên đoàn lao công bằng nhiều cách như huấn luyện cán bộ nghiệp đoàn theo lối Mỹ, vận động cứu tế trong các cuộc đấu tranh của công nhân, tranh giành thế lực với Tổng liên đoàn lao công và lực lượng thợ thuyền. Qua Tổng liên đoàn lao công, Diệm cố đưa tư tưởng công giáo xâm nhập vào các tầng lớp lao động, cố đánh bật ảnh hưởng cộng sản trong công nhân và chia rẽ phong trào công nhân.
Anh hùng của Tổng liên đoàn lao công ở Đà Nẵng rất lớn, vì ở đây không những là nơi tập trung khá nhiều công nhân mà còn là nơi có nhiều người Công giáo từ miền Bắc di cư vào 30.000 người trong tổng số 800.000 người, phần lớn là Công giáo từ miền Bắc di cư vào, đã đến định cư tại Đà Nẵng. Số người này sống dọc theo bờ biển, từ phía bắc Đà Nẵng, vùng giáp vơi Hà Khê đến Cồn Ái và vùng Nại Hiên Đông ở hữu ngạn sông Hàn. Họ tập trung chủ yếu quanh các nhà thờ Tam Tòa, Nội Hà, Thanh Bồ, Đức Lợi, Đa Phước, Nhượng Nghĩa được xây dựng ít lâu sau họ đến định cư.
Bên cạnh Đảng Cần lao nhân vị, chính quyền Diệm thành lập nhiều tổ chức khác nhằm đoàn ngũ hóa nhân dân để cột chặt quần chúng vào bộ máy cai trị của chúng. Theo kế hoạch đoàn ngũ hóa, chính quyền Diệm bắt nhân dân phải vào các tổ chức như: 'Phong trào cách mạng quốc gia' do Nguyễn Ngô Riềng làm Chủ tịch, 'Phong trào thanh niên cộng hòa', 'Phong trào phụ nữ liên đới'... Dựa vào các tổ chức này, chính quyền Diệm bắt nhân dân phải học tập 'tố cộng', chống Hiệp định Giơnevơ, chống hiệp thương Tổng tuyển cử và suy tôn Ngô Đình Diệm.
Trong công nhân, chính quyền Diệm thành lập Liên hiệp nghiệp đoàn Đà Nẵng do Nguyễn Văn Tánh, đảng viên Đảng Cần lao nhân vị làm Chủ tịch tập hợp các nghiệp đoàn đã có từ trước và thành lập thêm những nghiệp đoàn mới hòng lôi kéo công nhân, lao động vào các hoạt động chống phá cách mạng. Chúng bắt công nhân, viên chức phải kê khai lý lịch để thăm dò thái độ của họ nhằm thanh lọc họ để đưa người của Diệm vào thay thế.
Chính quyền Diệm còn bắt buộc, lôi kéo nhân dân vào Thiên chúa giáo dể dễ bề kiểm soát. Số đông quần chúng đã vào Phật giáo để tránh bị bắt buộc phải vào Thiên chúa giáo. Vì vậy, vào thời gian này, ở Đà Nẵng, chùa được xây cất thêm khá nhiều.
Song song với việc thành lập các tổ chức chính trị, Mỹ - Diệm xúc tiến mạnh việc xây dựng lực lượng quân sự. Được Mỹ viện trợ và huấn luyện, chính quyền Diệm ở Đà Nẵng ra sức xây dựng lực lượng quân sự nội thành. Lực lượng cảnh vệ trước đây chỉ có 1 đại đội, đến năm 1955 đã tăng lên 1 tiểu đoàn, gồm phần lớn là những phần tử phản động, gian ác, có thù hằn với cách mạng. Chúng đóng chốt ở các bốt Con Gà (nội thành), đến Xuân Hà (khu Tây) và đồn Mân Thái, Mỹ Khê (khu Đông).
Quân chủ lực ngụy ở Đà Nẵng trong những năm 1954-1965 có các đơn vị như Sư đoàn 2 bộ binh, các đơn vị biệt động quân, các bình chửng chuyên môn, ngoài ra còn có thành đoàn bảo an, hiến binh, quân cảnh.
Về lực lượng hải quân, tại Đà Nẵng có Hải đoàn vùng I chiến thuật, Hải duyên vùng I chiến thuật cùng lực lượng hải thuyền ngày đêm lùng sục, bảo vệ cảng và các lạch sông, ven biển.
Sân bay Đà Nẵng được mở rộng, phi đạo kéo dài trên 7000 mét cho máy bay phản lực hạ, cất cánh. Chính quyền Diệm đã đuổi dân ở các vùng Xuân Đán, Phục Đán, Xuân Hòa để lấy đất mở rộng sân bay.
Để củng cố và phát triển lực lượng quân ngụy, Mỹ ngày càng tăng viện trợ quân sự, thay đổi trang bị cho quân ngụy bằng những vũ khí hiện đại và trực tiếp huấn luyện quân ngụy theo chương trình của Mỹ nhằm mục đích trực tiếp chống chiến tranh du kích ở miền Nam và chuẩn bị tấn công miền Bắc. Từ giữa năm 1962 nhiều đơn vị đặc biệt của Mỹ đã nhảy vào Đà Nẵng nhằm đẩy mạnh cuộc 'chiến tranh đặc biệt' của chúng lên mức độ cao.
Tất cả các lực lượng quân sự và chính trị của Mỹ - Diệm nói trên tạo nên một bộ máy kìm kẹp chặt chẽ đối với nhân dân Đà Nẵng, hòng tiêu diệt lực lượng và phong trào đấu tranh của nhân dân ta.