SỰ THIẾT LẬP BỘ MÁY CAI TRỊ, THI HÀNH CHÍNH SÁCH KHỦNG BỐ, ĐÀN ÁP CỦA CHÍNH QUYỀN MỸ - DIỆM ĐỐI VỚI PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN ĐÀ NẴNG
Tình hình kinh tế- xã hội Đà Nẵng trong những năm 1954-1965
Nhìn chung, trong giai đoạn này, nền kinh tế - xã hội Đà Nẵng phát triển rất chậm chạp, hầu như ít có sự biến đổi về cơ cấu kinh tế cũng như cơ cấu xã hội.
Sau hòa bình lập lại 1954, một số công sở bị giải thể, một số xí nghiệp, công ty hầu như không hoạt động được. Tình hình đó dẫn tới nạn thất nghiệp diễn ra khá trầm trọng, đời sống nhân dân nói chung, nhất là công nhân Đà Nẵng hết sức khó khăn, thiếu thốn.
Đối với bà con Công giáo từ miền Bắc di cư vào cũng lâm vào tình trạng thất nghiệp, khó khăn. Khi cưỡng ép, mua chuộc giáo dân bỏ xóm làng vào miền Nam sinh sống, Mỹ - Diệm hứa sẽ cấp cho mỗi người 3 mẫu ruộng, hai con trâu và nhà cửa để làm vốn sinh sống, thợ thuyền sẽ có công ăn việc làm; học sinh, sinh viên sẽ được cấp học bổng hoặc được gởi đi học ở nước ngoài. Nhưng thực tế, đồng bào định cư ở Đà Nẵng đã không có nhà cửa, trâu bò, ruộng vườn, khó kiếm được công ăn việc làm. Trừ một số ít thuộc phe cánh Diệm và một số người giàu có từ trước, đại bộ phận đồng bào di cư rất cơ cực, túng thiếu. Lúc đó họ được phát mỗi người hai lon gạo và 10 đồng tiền chợ. Tháng 11.1954 họ được phát một lần 6000 đồng và buộc phải tự lo lấy cuộc sống.
Nền công nghiệp ở Đà Nẵng, nhìn chung rất tiêu điều, lạc hậu, chậm phát triển, không mở mang được bao nhiêu. Cả thành phố Đà Nẵng chỉ có một vài cơ sở công nghiệp quy mô nhỏ như nhà máy điện cũ của người Pháp. Đến năm 1960, chính quyền Sài Gòn cho khôi phục lại đoạn đường sắt từ Sài Gòn ra đến tận Đông Hà nhưng chỉ chạy cầm chừng. Số lượng công nhân, viên chức hỏa xa Đà Nẵng không nhiều và chỉ là những người làm công ăn tiền hoa hồng hoặc lương công nhật. Cảng Đà Nẵng trong giai đoạn này tuy có mở rộng nhưng hầu như không đáng kể. Số lượng hàng hóa nhập khẩu mỗi năm trên dưới 300.000 tấn, chủ yếu là hàng 'viện trợ' của Mỹ: vũ khí, quân trang, quân dụng và gạo.
Tiểu, thủ công nghiệp Đà Nẵng trong giai đoạn này cũng không có gì đáng kể. Nghề đánh cá của ngư dân vẫn làm theo lối thủ công, chưa có thuyền, ghe máy.
Thương nghiệp Đà Nẵng, so với các ngành khác, tuy có phát triển nhưng với chừng mực nhất định chủ yếu buôn bán các mặt hàng nông sản thực phẩm, thủy hải sản, bách hóa. Sự phát triển nhanh chóng nhất là buôn bán nhỏ của tiểu thương ở các chợ trong thành phố.
Từ cuối những năm 1950, đầu những năm 1960, cùng với việc quân Mỹ vào Đà Nẵng ngày càng đông, tình hình kinh tế - xã hội Đà Nẵng có những biến động. Mỹ - Diệm cho mở rộng sân bay Đà Nẵng, cảng Đà Nẵng, một số cơ sở công, kỹ nghệ thương nghiệp phát triển khá mạnh v.v...Tuy nhiên, hầu hết các cơ sở kỹ nghệ, buôn bán lớn nằm trong tay anh em, gia đình Ngô Đình Diệm.
Dựa vào thế lực của chính quyền Diệm, bà con, gia đình họ Ngô trở thành tư sản mại bản nắm trong tay nền kinh tế Đà Nẵng. Trần Lệ Xuân, phụ trách tài chính của Đảng Cần lao nhân vị, nắm độc quyền về quế, rượu, đầu tư xây dựng nhà máy dệt Hòa Thọ, mở khu kỹ nghệ An Hòa sản xuất phân Urê..., mở rộng cảng Đà Nẵng để khai thác, chuyên chở than Nông Sơn. Mụ cả Lễ nắm độc quyền về buôn bán lúa gạo ở Đà Nẵng... Một số tư sản khác mua lại các khách sạn và công ty của Pháp khi họ về nước, đã làm giàu rất nhanh chóng và trở thành tư sản mại bản ở Đà Nẵng. Một mặt, ra sức kinh doanh, buôn bán làm giàu nhờ chiến tranh, mặt khác bà con, gia đình Diệm ra sức chèn ép, bóp nghẹt tư sản dân tộc để chúng dễ bề lũng đoạn, thao túng nền kinh tế ở Đà Nẵng. Tháng 10.1962 Ngô Đình Cẩn đã bắt 120 nhà tư sản dân tộc ở Đà Nẵng. Như vậy, nền kinh tế Đà Nẵng vừa phát triển chậm chạp vừa lệ thuộc vào Mỹ - Diệm mà bà con, gia đình họ Ngô là đại diện. Tình hình đó khiến cho mâu thuẫn xã hội ở Đà Nẵng càng thêm gay gắt.
(Còn nữa)