SỰ THIẾT LẬP BỘ MÁY CAI TRỊ, THI HÀNH CHÍNH SÁCH KHỦNG BỐ, ĐÀN ÁP CỦA CHÍNH QUYỀN MỸ - DIỆM ĐỐI VỚI PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN ĐÀ NẴNG

Tình hình kinh tế- xã hội Đà Nẵng trong những năm 1954-1965 (Tiếp theo)

Cũng như tình hình kinh tế, sự phát triển về văn hóa, giáo dục ở Đà Nẵng cũng diễn ra hết sức chậm chạp. Về giáo dục, ở Đà Nẵng chỉ có một vài trường công như trường Phan Chu Trinh, Trưng Vương, trường nam tiểu học..., phần lớn là trường tư do tư nhân người Hoa hay tổ chức tôn giáo mở như các trường bán công Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Tây Hồ, Sao Mai, Thọ Nhơn và các trường tiểu học khác. 

Cơ sở y tế Đà Nẵng trong những năm 1954-1965 hầu như không đáng kể và không phát triển so với trước. Cả thành phố Đà Nẵng chỉ có một bệnh viện dân y cũ do Pháp để lại và tổng y viện Duy Tân của quân đội Diệm ở vùng I chiến thuật. 

Tôn giáo phát triển khá mạnh. Thực hiện ý đồ đưa Thiên chúa giáo trở thành quốc giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức cưỡng ép, dụ dỗ nhân dân vào đạo Thiên chúa. Nhiều nhà thờ mọc lên ở Đà Nẵng như nhà thờ Tam Tòa, Đức Lợi, Thanh Bình, Nại Nghĩa, Nại Hiên Đông... và một số nhà thờ khác ở ven núi Sơn Trà. 

Để tránh đi vào Thiên chúa giáo, nhiều đồng bào tự nguyện trở thành tín đồ Phật giáo. Mặc dù bị chèn ép và gây khó khăn, bà con theo đạo Phật đã góp tiền của xây thêm một số chùa chiền trong thành phố. 

Đáng chú ý nhất là từ cuối những năm 1950, lối sống Mỹ đã bắt đầu thâm nhập vào Đà Nẵng. Cùng với việc đưa vũ khí, tiền bạc vào miền Nam nước ta, đế quốc Mỹ đã du nhập và phổ biến lối sống kiểu Mỹ vào nhân dân miền Nam, trước hết là trong tầng lớp thanh, thiếu niên. Đó là lối sống gấp, ích kỷ, sa đọa... Đầu những năm 1960, tại Đà Nẵng đã xuất hiện một số ổ nhóm tụ tập các thanh niên nam, nữ với những sinh hoạt thiếu lành mạnh, hút sách, nghiện ngập, cờ bạc, đĩ điếm... 

Rõ ràng, sự can thiệp và xâm lược của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam đã làm cho nền kinh tế xã hội ở miền Nam nói chung cũng như ở Đà Nẵng lâm vào tình trạng bế tắc, lạc hậu và phụ thuộc. Chính quyền Mỹ - Diệm khống chế, thao túng nền kinh tế và kìm hãm sự phát triển về văn hóa - xã hội Đà Nẵng. 

Hòa bình lập lại đã đem lại niềm vui cho nhân dân, nhưng cuộc sống bắt đầu không ổn định. Việc thay thầy đổi chủ và sự xung đột trong nội bộ địch đã ảnh hưởng đến công ăn việc làm của nhân dân. Mỹ tuyên bố trực tiếp viện trợ cho Diệm đã làm cho các công trình xây dựng dở dang ở sân bay khu Đông Đà Nẵng tạm đình chỉ, làm cho nhiều người không có việc làm. Một số công, tư sở tại Đà Nẵng sa thải 50% nhân viên như Génis, ESM, cảng. 

Cuối năm 1954, đầu năm 1955 số người thất nghiệp lên đến gần 10.000 người. Đời sống nhân dân lao động gặp nhiều khó khăn, căng thẳng. Nhiều người phải lên rừng đốn củi, kiếm ăn qua ngày, có người lang thang ngoài đường phố hoặc về nông thôn hành khất. Một xe xích lô có từ 3-5 người thuê, thay phiên nhau đạp suốt ngày đêm. Một nwời tìm được một việc làm thuê nào đó phải chia sẻ cho hai ba người cùng làm. 

Đời sống của công chức, thợ thủ công, tiểu thương cũng hết sức túng thiếu. Thợ may, thợ giày không có việc làm, tiểu thương buôn bán ế ẩm, chị em buôn gánh bán bưng phải vất vả lắm mới kiếm sống qua ngày. 

Từ giữa năm 1955 trở đi, viện trợ và hàng hóa Mỹ đổ vào, công ăn việc làm có khá hơn. Nhưng đồng thời tàu chiến, 'cố vấn' Mỹ, sách báo, phim ảnh Mỹ xâm nhập làm cho sinh hoạt xã hội bắt đầu thiếu lành mạnh. 

Nhìn chung, từ năm 1954 đến đầu năm 1965, nền kinh tế - xã hội Đà Nẵng không phát triển được bao nhiêu. Đời sống nhân dân lao động khó khăn. Tư sản dân tộc bị chèn ép. Dân nghèo thành thị và công nhân, lao động thường xuyên bị đe dọa thất nghiệp. Mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc.

(10/12/2003)
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

LƯỢT TRUY CẬP
2809924