CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ - DIỆM CỦA NHÂN DÂN ĐÀ NẴNG TRONG NHỮNG NĂM 1954 - 1965
Đảng bộ Đà Nẵng chuyển hướng tổ chức và hoạt động trong thời kỳ mới (Tiếp theo)
Công tác trước mắt của Thành ủy là bố trí sắp xếp lại tổ chức. Toàn bộ cán bộ và chiến sĩ trong lực lượng vũ trang đều được bố trí đi tập kết ra Bắc. Hầu hết cán bộ chính trị, đoàn thể đều ở lại. Một số được chỉ định vào các cấp ủy, ban cán sự, một số khác được đưa về địa phương làm nòng cốt trong các tổ chức trung kiên...
Lúc này, Thành ủy Đà Nẵng được tổ chức lại gọn nhẹ gồm 5 người, do đồng chí Nguyễn Thành Long làm Bí thư.
Cơ quan Thành ủy chuyển từ căn cứ ở Hòa Vang về đứng chân trong thành phố. Các đồng chí Thành ủy viên được phân công phụ trách các khu vực nội thành, khu Tây, khu Đông, khu Nam và khu Sông Đà.
Các đảng viên còn đủ tinh thần và điều kiện hoạt động được tổ chức thành các chi bộ nhỏ từ 3-5 người, chuyển vào hoạt động bí mật, dựa vào sự bảo vệ của các cơ sở quần chúng trung kiên và thông qua số cơ sở này để chỉ đạo phong trào quần chúng. Lúc mới chuyển hướng tổ chức, khu Tây có 5 chi bộ, khu Đông và khu Sông Đà mỗi nơi có 3 chi bộ, khu Nam có 2 chi bộ, khu nội thành có các chi bộ: Thạc Gián, Hải Châu, Nam Dương, Nại Hiên, và chi bộ các chợ, hỏa xa, cảng, nhà đèn, khuân vác, xích lô. Ngoài ra, còn có một số cơ sở hoạt động nội tuyến trong Tòa thị chính, cảnh sát, bảo an, công binh...
Khác với thời kỳ kháng chiến chống Pháp, địa bàn và phương thức hoạt động trong thời kỳ mới phải chuyển đổi cho phù hợp với tình hình. Đây là những vấn đề khó khăn, gian khổ đối với nhiều cán bộ, đảng viên. Từ các vùng căn cứ chuyển vào hoạt động nội thành đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải chuyển đổi phương thức, phương pháp hoạt động, phải xây dựng nhiều cơ sở, chỗ ở khác nhau, biết cách tránh địch khi chúng lục soát, vây ráp... Mỗi chỗ ở phải có hầm bí mật, phân tường hai ngăn hoặc chỗ ở trên trần nhà. Dưới thuyền, phải có ngăn ẩn dấu hoặc phải biết cách lánh địch dưới nước. Chủ nhà, chủ thuyền phải lợi dụng khi sửa chữa nhà, sửa chữa thuyền để làm hầm bí mật, chỗ ẩn nấp bí mật. Có đồng chí tự mình đào hầm bí mật ngoài vườn, bụi bờ ngoài đồng, trong khu Mả Tây (ở đường Trần Bình Trọng) vào ban đêm khi mọi người đã đi ngủ và phải ngụy trang kỹ dấu đào đất để tránh địch phát hiện. Để di chuyển, đi lại, mỗi người phải làm giấy tờ tùy thân cần thiết. Đối với cán bộ, đảng viên hoạt động bí mật phải tạo được những giấy tờ giả để che mắt địch. Nhiều người khác mua mẫu giấy của địch bán sẵn ở quầy hàng, nhờ cơ sở chụp ảnh đúng theo quy cách của địch. Từng đồng chí đề tên giả, dán ảnh rồi gửi cơ sở trong các hội đồng phường, xã, nơi ta có cơ sở mạnh, để lẫn vào các xếp căn cước trình ký, lấy chữ ký và đóng dấu thật. Khi không còn làm giấy giả theo cách này được, ta đã tổ chức bộ phận làm căn cước giả và chỉ sử dụng lúc thật cần thiết.
Các đồng chí bên ngoài vào thành phố hoạt động phải học cách nói năng, đi lại như người thành phố, thường phải đi vào chiều tối để tránh gặp cảnh sát và bọn chỉ điểm.
Rõ ràng, sự thay đổi phương thức, phương pháp hoạt động trong tình hình mới là hết sức khó khăn, mới mẻ. Thời gian học tập và triển khai việc chuyển hướng tổ chức và hoạt động quá ngắn ngủi, nhiều công việc phải làm, kinh nghiệm lúc đầu chưa có. Vì vậy đã phát sinh nhiều lệch lạc, sơ hở làm cho địch dễ theo dõi, phát hiện dẫn tới nhiều tổn thất về sau.
Để thực hiện tổ chức gọn nhẹ, đầu năm 1955 Thành ủy đã bố trí cho một số đồng chí vượt tuyến ra Bắc bằng đường thủy hoặc đường bộ ra Đông Hà rồi nhờ cơ sở tại chỗ tìm cách vượt sông Bến Hải.
Cùng với tổ chức Đảng, các cơ sở quần chúng cũng được tổ chức lại thành những tổ trung kiên bí mật từ 3-5 người. Trong công nhân hỏa xa, nhà đèn, cảng, thanh niên, học sinh, phụ nữ, tiểu thương, công tư chức, nông dân vùng ven thành phố đều có tổ trung kiên làm nòng cốt. Tại các cơ sở nghiệp đoàn do địch lập ra, Thành ủy cũng xây dựng được một số tổ cảm tình cách mạng trong các tổ chức hợp pháp và bán hợp pháp của quần chúng như các tổ đổi công (của nông dân ngoại thành), các hội thương tế, hội vạn ghe, hội đẩy thuyền (ở Sông Đà, Thanh Hà Khê), hội bóng đá, bóng chuyền, hội văn nghệ, hội hát tuồng v.v...
Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ đấu tranh vũ trang chuyển sang đấu tranh chính trị, Thành ủy chủ trương giữ thế công khai, hợp pháp, khéo công tác, khéo che dấu lực lượng. Các tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên trung kiên phải chuyển hẳn vào hoạt động bí mật, còn quần chúng nòng cốt ở các vùng phải giữ thế hợp pháp đấu tranh với địch. Số đảng viên còn lại sống hợp pháp phải biết sử dụng mọi khả năng công khai, hợp pháp lợi dụng các nghiệp đoàn, luật lệ, báo chí của địch để hướng dẫn quần chúng đấu tranh, đưa ra các khẩu hiệu phù hợp với lợi ích hàng ngày của quần chúng, chống lại những hành động của địch vi phạm quyền công dân, đòi quyền dân sinh, dân chủ.
Đối với những hội quần chúng mới được lập ra phải tổ chức sinh hoạt làm cho địch quen dần và chấp nhận. Một số người đã biết dựa vào làng xóm, bà con quen thuộc để vận động binh lính, cảnh sát, tranh thủ sự đồng tình của họ nhằm cô lập bọn ác ôn, đầu sỏ.
Mặc dầu có những lúng túng, lệch lạc ban đầu, việc chuyển hướng tổ chức và hoạt động của Đảng bộ và nhân dân Đà Nẵng, nhìn chung phù hợp với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới. Đây là điều kiện cơ bản để tiến hành đấu tranh với địch, duy trì và bảo vệ lực lượng cách mạng của Đảng và quần chúng.