THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG SAU KHI ĐẾ QUỐC MỸ CHIẾM ĐÓNG

Tổ chức hành chính thành phố Đà Nẵng 

Là thành phố lớn thứ hai ở miền Nam, cùng với việc mở mang, xây dựng, thành phố Đà Nẵng cũng được mở rộng về địa giới, thay đổi về tổ chức hành chính. 

Năm 1967, do nhu cầu phát triển, chính quyền Sài Gòn ra nghị định số 357/ĐUHC ngày 17.6.1967 ấn định Đà Nẵng gồm 4 đơn vị hành chính: Cấp thị xã, cấp quận, cấp khu phố và cấp khóm. 

Tòa Thị chính thành phố đứng đầu là một thị trưởng, một phó thị trưởng và gồm các ty: Văn phòng, Hành chính, Tài chính, Nội an và Trung tâm tu nghiệp công chức. Ngoài Toà Thị chính và Hội đồng thị xã còn có một số ty, sở chuyên môn như: y tế, Thuỷ Lâm, Ngư Nghiệp, Phát triển sắc tộc, Thông tin, Cảnh sát quốc gia, Thuế vụ, Tiểu học v.v... 

Về cấp quận, thành phố được chia làm 3 quận: Quận I, Quận II và Quận III. Cấp quận không có quyền tự trị về hành chính và tài chính. Tại mỗi quận có văn phòng hành chính và các chi chuyên môn. 

Dưới cấp quận, Đà Nẵng chia làm 28 khu phố. Quận I gồm 9 khu phố : Xương Bình, Hải Châu, Hoà Thuận, Phước Ninh, Thạch Thang, Bình Thuận, Thiệu Bình, Nam Dương và Nại Hiên Tây. 

Quận II gồm 10 khu phố: Thạc Gián, Chính Trạch, Tam Tòa, Hà Khê, Xuân Đán, Thanh Khê, Phú Lộc, Xuân Hoà, Phục Đán, An Khê. 

Quận III gồm 9 khu phố : An Hải, Nam Thọ, Nại Hiên Đông, Phước Trường, Nhượng Nghĩa, Cổ Mân, Tân Thái, Mân Quang và Mỹ Khê. 

Mỗi khu phố thành lập một uỷ ban hành chính khu phố gồm một chủ tịch,1 phó chủ tịch và 3 ủy viên. 

Đến năm 1972, ranh giới khu phố có sự thay đổi do việc ghép một số khu phố lại với nhau. Theo sự phân chia này, quận I còn lại 7 khu phố, trong đó các khu phố Phước Ninh, và Nam Dương ghép lại thành khu phố Nam Phước, khu phố Bình Thuận ghép với Nại Hiên Tây thành khu phố Bình Hiên. Quận II gồm 5 khu phố, trong đó một nửa Thạc Gián cũ ghép với Chính Trạch thành khu phố Chính Gián. Ba khu phố Tam Tòa, Xuân Hòa và Hà Khê ghép lại thành khu phố Hà Tam Xuân. Các khu phố Thanh Khê, Phú Lộc, Phục Đán gộp lại thành khu phố Thanh Lộc Đán. Quận III gồm 7 khu phố, trong đó Phước Trường và Mỹ Khê gộp lại thành khu phố Phước Mỹ, Nại Hiên Đông ghép với Nhượng Nghĩa thành Nại Nghĩa, Cổ Mân và Tân Thái ghép lại thành Mân Thái và khu phố An Hải chia làm hai thành An Hải Bắc và An Hải Nam. 

Như vậy đến năm 1972, thành phố Đà Nẵng bao gồm 3 quận 19 khu phố và 109 khóm; trong đó quận I gồm 7 khu phố, 39 khóm, quận II gồm 5 khu phố và 39 khóm, quận III gồm 7 khu phố và 31 khóm. 

Trong những năm sau, các quận, khu có đôi lần tách, nhập, chuyển, song về cơ bản không thay đổi đáng kể. 

Cũng như các thành phố khác ở miền Nam, ở Đà Nẵng dưới các khóm còn có các tổ chức liên gia. Mỗi liên gia gồm từ 5 đến 10 hộ gia đình hình thành một tổ sinh hoạt trong cộng đồng của khóm, khu, đứng đầu là liên gia trưởng. 

Do chính sách đô thị hoá, dân số Đà Nẵng ngày càng một tăng nhanh. Năm 1964 dân số thành phố là 148.599 người, sang năm 1965 đã lên tới 164.274 người. Mức tăng dân số ngày càng nhanh theo các năm. Năm 1966: 228.035 người; 1967: 269.087; 1968: 314.532; 1969: 398.627; 1970: 411.932; 1971: 430.639; 1972:440.000; 1973: 470.500 và đến 1975 lên tới gần 500.000 người. 

(10/12/2003)
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

LƯỢT TRUY CẬP
2809821