ĐÀ NẴNG TRONG CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI CUỘC CHIẾN TRANH CỤC BỘ CỦA MỸ (1965 - 1968) (Tiếp theo)

Trên chiến trường miền Nam, trong hai năm 1966 - 1967, quân và dân ta đã mở 2 chiến dịch lớn : chiến dịch Đông Xuân 1965-1966 và Đông Xuân 1966 -1967, đánh bại hai cuộc phản công chiến lược của Mỹ - ngụy vào các khu căn cứ cách mạng ở Khu 5 và Đông Nam Bộ. Phối hợp với chiến trường toàn miền Nam, ngày 27.2 và 18.3 năm 1967 quân giải phóng pháo kích sân bay Đà Nẵng phá huỷ nhiều máy bay địch, diệt và làm bị thương nhiều lính Mỹ. Ngày 14.5, ta tấn công vị trí tên lửa Hawk, phá hủy 36 tên lửa của địch. Từ giữa năm 1966, Mỹ - ngụy tiến hành cày ủi trắng các vùng của ta để đặt trạm tên lửa, pháo, nơi đóng quân, dồn dân về các khu tập trung quanh các quận lỵ và thành phố Đà Nẵng. Dân số Đà Nẵng tăng vọt từ 146.000 năm 1966 và 296.000 năm 1967. Tỉnh ủy Quảng Đà và Thành ủy Đà Nẵng nhân dịp này chủ trương đưa cán bộ cơ sở từ nông thôn bám theo dân về thành phố để lập chi bộ 2 nhằm tăng thêm đội ngũ lãnh đạo cách mạng cho thành phố. Đồng thời huy động nhân dân vùng nông thôn kéo vào thành phố tố cáo tội ác địch, chống địch đốt phá, cày ủi làng mạc. 

Ngày 3.9.1967, Thiệu - Kỳ tổ chức bầu cử tổng thống và thượng nghị viên để hợp thức hoá việc cầm quyền của chúng. Cũng như nhân dân ở các thành phố khác, nhân dân Đà Nẵng một lần nữa lại xuống đường. Ngày 5.9.1967. Lực lượng thanh niên học sinh, sinh viên tranh thủ dân chỉ 'kêu gọi nhân dân lao động xuống đường lên án cuộc bầu cử gian lận, không thừa nhận kết quả và đòi xóa bỏ cuộc bầu cử này. 

Cuộc đấu tranh kiên cường của quân và dân Đà Nẵng trong những năm 1966-1967 đã góp phần cùng với các cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam làm thay đổi tình hình, tạo thế và lực để quân và dân ta tiến lên giành những thắng lợi mới to lớn hơn. 

Sau cuộc phản công chiến lược lần thứ hai thất bại, vào cuối 1996, đế quốc Mỹ đứng trước một tình thế bế tắc cả về chiến thuật lẫn chiến lược. Từ 1965 đến nay, Mỹ đã sử dụng một số lớn tiền của và binh lính vào cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng những mục tiêu chính trị, quân sự của chúng đều bị phá sản, số lính Mỹ chết và thương vong ngày càng tăng, tinh thần và ý chí chiến đấu giảm sút. 

Ở nước Mỹ, nhân dân Mỹ mất lòng tin đối với chính quyền Giôn - Xơn và lo ngại về một cuộc chiến tranh kéo dài hao tiền, tốn của. Một phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh Việt Nam bùng nổ. Giới cầm quyền Mỹ bắt đầu dao động. 
Để cứu vãn tình thế, Giôn Xơn quyết định đưa thêm vào miền Nam 10 vạn quân chiến đấu, đưa tổng số quân Mỹ ở miền Nam lên 480.000 vào cuối tháng 12 năm 1967, và đến đầu năm 1968, số quân Mỹ ở miền Nam đã lên tới 505.000 tên. Với lực lượng đông đảo như trên, Mỹ dự định sẽ mở cuộc hành quân chiến lược lần thứ 3 tập trung chủ yếu vào miền Đông Nam Bộ và vùng Trị Thiên. 

Trong khi đó, lực lượng cách mạng ở miền Nam ngày càng lớn mạnh. Đến đầu 1968, lực lượng chủ lực quân giải phóng có 7 sư đoàn, 15 trung đoàn, 50 tiểu đoàn độc lập. Lực lượng vũ trang địa phương có 55 tiểu đoàn, 17 đại đội, 144 trung đội độc lập. Dân quân tự vệ có 30 vạn. Lực lượng của ta đã triển khai ở các vị trí quan trọng, nhất là ở vùng ven thành phố lớn, sẵn sàng tấn công tiêu diệt địch. 

Từ tình hình trên, tháng 12 năm 1967, Bộ Chinh trị đã họp và nhận định: ''Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Đế quốc Mỹ đang trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược'. Bộ Chính trị quyết định: ''chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định' và 'động viên những nỗ lực lớn nhất cuả toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh của ta lên bờ phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định'.

(Còn nữa)

(10/12/2003)
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

LƯỢT TRUY CẬP
2809775