ĐÀ NẴNG TRONG CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI CUỘC CHIẾN TRANH CỤC BỘ CỦA MỸ (1965 - 1968) (Tiếp theo)
Tại Đà Nẵng, sau cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Thường vụ Đặc khu ủy đã họp và đề ra nhiệm vụ sắp tới phải ra sức chỉnh đốn lại lực lượng, tăng cường chỉ đạo, tiếp tục phát động tư tưởng quần chúng, chuẩn bị tấn công địch cho những đợt tiếp theo. Khu ủy Khu 5 bổ sung đồng chí Trương Chí Cương, uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng là Bí thư Đặc khu ủy, các đồng chí Nguyễn Chánh, Giáp Văn Cương làm Tư lệnh và phó Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà.
Mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy đợt hai ở Đà Nẵng là trận tập kích bãi xe Cẩm Bình của tiểu đoàn 89 bộ đội đặc công, phá huỷ 56 xe, diệt một đại đội Mỹ. Đồng thời pháo binh bắn phá sân bay Đà Nẵng, hai sân bay trực thăng Xuân Thiều, Nước Mặn, căn cứ hải quân Sơn Trà, tổng kho An Đồn, gây nhiều thiệt hại cho địch.
Bên trong thành phố, lực lượng tự vệ, biệt động tiến đánh nhiều mục tiêu, trong đó có các khách sạn, bar nơi lính Mỹ hay lui tới, diệt nhiều lính Mỹ.
Sau hai đợt tấn công lớn của ta, quân địch ở Đà Nẵng tăng cường củng cố bảo vệ các căn cứ, kho tàng, sân bay hòng ngăn chặn sự xâm nhập của quân giải phóng. Từ tháng 6.1968, Mỹ bắt đầu xây dựng hàng rào điện tử Mac Namara bao quanh thành phố kéo dài từ xã Điện Dương vùng đông Điện Bàn giáp với Hội An, qua Điện Nam, Điện Thắng, Điện Hoà, Điện Tiến lên Hoà Khương giáp với vùng núi tây bắc Hòa Vang. Dọc theo hàng rào chúng xây dựng một hệ thống đồn bốt được nối với nhau bằng đường xe hơi. Hai bên hàng rào là những tuyến mìn, từng đoạn có đặt máy điện tử phát hiện tiếng động để chỉ điểm cho pháo binh địch bắn phá. Ở ngoại vi thành phố, chúng đặt một tuyến mìn từ Cẩm Lệ đến Cồn Bồi xuyên qua xã Hòa Cường.
Bên trong thành phố, địch tăng cường lùng ráp, tiến hành rào khóm chiến lược, phát quang một số khu lao động. Tại các cửa ngõ ra vào thành phố, chúng dùng cảnh sát kiểm soát xe cộ và người ra vào suốt ngày đêm.
Tuy đợt tổng tấn công tháng 5 của quân và dân ta ở miền Nam đã gây thêm cho địch nhiều thiệt hại nặng nề, song hiệu suất tấn công còn thấp, binh vận kém, phong trào nổi dậy yếu. Xuất phát từ nhận thức tổng công kích, tổng khởi nghĩa là một quá trình, Bộ Chính trị quyết định mở tiếp đợt 3 tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Đợt này vẫn nhằm vào các thành phố lớn. Khu 5 mở chiến dịch Thu, trọng điểm vẫn là Quảng Đà. Thời gian nổ súng ấn định vào ngày 17.8 và kết thúc vào 28.9.1968.
Đúng ngày 17.8, tiểu đoàn công binh ta đã đánh sập 3 cầu trên đèo Hải Vân, các tiểu đoàn bộ binh và đặc công cùng lực lượng vũ trang Hoà Vang tấn công một loạt căn cứ của địch, trong đó có bãi xe Cẩm Bình, bãi xe Kim Liên, chiếm khu phố Cẩm Lệ, uy hiếp quận lỵ Hoà Vang, gây cho địch nhiều thiệt hại. Tiểu đoàn bộ binh ta tấn công căn cứ biệt kích Nùng ở chân núi Non Nước, diệt nhiều địch.
Đêm 22.8.1968, sư đoàn 2 chủ lực quân khu và các lực lượng đặc công, pháo cối đồng loạt tấn công thành phố Đà Nẵng, thị xã Hội An, Tam Kỳ và các thị trấn, quận lỵ Hoà Vang, Vĩnh Điện. Sân bay Đà Nẵng bị pháo kích dữ dội, nhiều máy bay bị phá hủy, nhiều lính Mỹ bị giết. Kho xăng ESSO bị pháo kích bốc cháy đến 10 giờ sáng, tiêu hủy 6 triệu lít. Bên trong thành phố, các chiến sĩ biệt động tấn công biệt khu Đà Nẵng, phá sập nhiều nhà, diệt nhiều tên địch. Nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Tam dùng B40 bắn cháy xe địch ngay trên đường Thống Nhất, trung tâm thành phố. Cuộc tiến công của ta kéo dài mấy ngày liền, buộc địch liên tục báo động, xe tăng và binh lính chiếm giữ các ngã ba, ngã tư đường phố. Thành phố Đà Nẵng bị náo động.
Sang tháng 11, chiến dịch Đông lại mở màn. Đêm 16.11, quân ta lại tấn công căn cứ hải quân, sân bay Đà Nẵng và nhiều vị trí khác trong thành phố. Nhiều binh lính và sĩ quan Mỹ ở sân bay và căn cứ hải quân bị giết và bị thương, nhiều máy bay bị phá hủy và phá hỏng.
Trong thành phố, lực lượng đặc công và biệt động thành đã tấn công đài phát thanh, đồn cảnh sát chợ Cồn, Hoà Thuận, bót cảnh sát Hoàng Diệu... trước những đòn tấn công của ta, địch phải ban hành lệnh giới nghiêm 24/24 giờ trong suốt nhiều ngày sau đó.
Đêm 23.12.1968, lực lượng biệt động quận 2 tập kích đồn bảo an Phú Lộc, sau đó rút về trú ẩn tại nhà mẹ Nhu ở khu phố Thanh Khê. Ngày 26.12, do một tên phản bội chỉ điểm, địch ập vào nhà, bắt mẹ Nhu tra tấn, bắt khai nơi trú ẩn của lực lượng biệt động. Khi địch xăm được miệng hầm, mẹ Nhu đã ngang nhiên chặn địch lại, báo hiệu để các chiến sĩ kịp thời đối phó. Mẹ đã bị chúng bắn ngã. Các chiến sĩ biệt động đã xông lên diệt và làm bị thương nhiều tên địch. Địch phải rút chạy, kêu trực thăng và quân tiếp viện. 7 chiến sĩ biệt động đã dựa vào địa hình thuận lợi chiến đấu suốt một ngày chống lại địch đông gấp bội. Đến tối ngày 16.12, nhờ đồng bào che dấu, dẫn đường, các chiến sĩ đã rút khỏi vòng vây. Đội trưởng Nguyễn Trung Huề đã anh dũng hy sinh. Đặc khu ủy Quảng Đà đã tuyên dương công trạng mẹ Nhu và 7 dũng sĩ Thanh Khê và phát động phong trào 'học tập và chiến đấu như 7 dũng sĩ Thanh Khê' trong lực lượng vũ trang.
Năm 1968, năm cuộc Tổng tấn công và nổi dậy với những chiến thắng vang dội trên khắp chiến trường miền Nam, trong đó có sự đóng góp của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng. Cùng với thắng lợi đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, thắng lợi của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã làm phá sản chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ. Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải thừa nhận thất bại, tuyên bố xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom phá hoại miền Bắc, không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ tới và chịu ngồi vào bàn thương lượng với ta tại Hội nghị Pa-ri.