ĐÀ NẴNG TRONG CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG CHIẾN LƯỢC 'VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH' CỦA MỸ (1969 - 1973)
Cuộc tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân là cột mốc đánh dấu sự thất bại của chiến tranh cục bộ, góp phần quan trọng làm phá sản chiến lược toàn cầu phản ứng linh hoạt của đế quốc Mỹ.
Nich-xơn và những người cầm quyền nước Mỹ nhận thấy những thất bại liên tiếp của Mỹ trên thế giới, nhất là ở Việt Nam đã và đang làm biến đổi cán cân trên thế giới không có lợi cho Mỹ. Vì vậy, Mỹ chủ trương điều chỉnh chiến lược hòng tiếp tục thực hiện chính sách bá chủ toàn cầu và duy trì thống trị ở miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới.
Đế quốc Mỹ đề ra chiến lược toàn cầu mới mang tên 'Học thuyết Ních xơn' và chiến lược quân sự 'răn đe thực tế' thay cho chiến lược 'phản ứng linh hoạt' đã bị phá sản. Riêng đối với phong trào giải phóng dân tộc, học thuyết Ních xơn chủ trương vừa dụ dỗ, mua chuộc vừa đe doạ. Vì thất bại ở Việt Nam, Mỹ tìm cách hạn chế việc sử dụng quân Mỹ, thực hiện 'Liên minh khu vực', 'Dùng người địa phương đánh người địa phương'.
Ứng dụng học thuyết Ních xơn vào Việt Nam, chính quyền Mỹ điều chỉnh chủ trương 'phi Mỹ hoá' của Giôn xơn thành chiến lược 'Việt Nam hóa chiến tranh'. Thực chất của chiến lược này là dùng người Việt đánh người Việt với tiền bạc, vũ khí, trang bị của Mỹ và do Mỹ chỉ huy.
Mỹ dự định thực hiện kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh qua 3 giai đoạn với các biện pháp thực hiện là : xây dựng ngụy quân thành lực lượng mạnh, đủ sức đương đầu với lực lượng vũ trang của ta; củng cố ngụy quyền các cấp, ổn định và tăng trưởng nền kinh tế miền Nam; tập trung sức lực thực hiện chương trình bình định; chặn đứng các nguồn tiếp tế, chi viện cho Việt Nam, xúc tiến quan hệ ngoại giao để kiềm chế, cô lập cuộc đấu tranh của ta ; tập hợp liên minh phản động khu vực do ngụy quyền, ngụy quân Việt Nam làm nòng cốt.
Đế quốc Mỹ gấp rút củng cố bộ máy chỉ đạo chiến tranh ở miền Nam bao gồm Đại sứ quán Mỹ, Bộ tư lệnh viện trợ quân sự MACV, phân cục tình báo CIA và hệ thống cố vấn dân sự, quân sự, đồng thời buộc chính quyền Sài Gòn ban hành lệnh tổng động viên, bắt lính, đôn quân và hiện đại hóa quân đội. Trong gần 4 năm 1969-1972, địch đã nâng quân chủ lực, quân địa phương (bảo an, dân vệ) từ 70 vạn lên 110 vạn, lực lượng bán vũ trang (phòng vệ dân sự) từ 150 vạn lên 200 vạn, tạo thành một đội quân tay sai đông nhất trong các nước chư hầu của Mỹ.
Đồng thời với việc tăng cường lực lượng ngụy quân, củng cố ngụy quyền, đế quốc Mỹ mở hàng ngàn cuộc hành quân càn quét, phản kích hòng đẩy lực lượng chủ lực của ta lên vùng núi dọc biên giới, tăng cường đánh phá, huỷ diệt các vùng giải phóng, các vùng căn cứ cách mạng. Bình định được Mỹ coi là quốc sách, là biện pháp chủ chốt, quyết định sự tồn vong của ngụy quyền và sự thành bại của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Từ 1969, Mỹ - ngụy dồn sức bình định quyết liệt vùng nông thôn, mở nhiều cuộc hành quân càn quét đánh phá, chà đi xát lại nhằm tiêu diệt cơ sở cách mạng của ta bằng cả biện pháp quân sự lẫn kinh tế.
Đối với Quảng Nam - Đà Nẵng, Mỹ - Thiệu tiến hành 2 công tác lớn: Tăng cường ngụy quân, ngụy quyền mạnh cả về chất và lượng để thay thế cho quân Mỹ và Nam Triều Tiên. Mở rộng chương trình bình định giành lại các vùng nông thôn quanh Đà Nẵng, kiểm soát chặt chẽ thành thị, giữ vững các căn cứ và trục giao thông chiến lược.
Để bảo vệ Đà Nẵng, chúng tăng cường hệ thống phòng thủ nhiều tầng, từ xa, từ tuyến Cầm Giơi - Núi Quế với nhiều lực lượng khác nhau từ quân Mỹ, Nam Triều Tiên đến quân chủ lực ngụy, bảo an, phòng vệ dân sự.
Ở các vùng nông thôn quanh Đà Nẵng, Mỹ - Thiệu ráo riết thực hiện chương trình bình định. Chúng dùng B52, bom toạ độ cày ủi, cào sạch nhà cửa những vùng tây Duy Xuyên, Gò Nổi, tây Điện Bàn, tây Hoà Vang. Để kiểm soát các trục lộ giao thông, địch xúc tác dân lên bên đường, lập các khu dồn dân, lập hàng rào điện tử từ Hội An đến tây bắc Hoà Vang. Đồng thời ra quy định một số vùng chúng được tự do bắn phá. Trong thời gian từ 1969 đến 1972, các vùng Gò Nổi, Hòn Tàu, tây Duy Xuyên, vùng núi tây Đại Lộc liên tục bị địch dùng máy bay B52 đánh phá ác liệt.
Về kinh tế, Mỹ - ngụy tiến hành đánh phá, ngăn chặn hành lang tiếp tế của ta, dùng chất độc hoá học trên quy mô lớn để phá hoại mùa màng, giết hại trâu bò, phá hoại việc sản xuất của ta. Năm 1969 cũng như tình hình chung toàn miền, lực lượng cách mạng gặp nhiều khó khăn, luôn bị địch càn quét, đánh phá, cán bộ và nhân dân phải sống ngày đêm dưới hầm, đói kém bệnh tật.
Bên trong thành phố, địch củng cố lại hệ thống cai trị, đưa Nguyễn Ngọc Khôi thay Lê Trí Cường làm Thị trưởng Đà Nẵng, chia lại các khu phố, phường, khóm. Hệ thống liên gia được tổ chức lại, mỗi liên gia gồm 5 gia đình gọi là 'ngũ gia liên bảo' để kiểm soát lẫn nhau. Lập các phân chi cảnh sát, đưa các sĩ quan về làm phân chi trưởng. Làm lại thẻ căn cước để dễ bề kiểm soát. Luôn tiến hành kiểm tra giấy tờ, căn cước để chống việc xâm nhập của ta. Các quận trong thành phố luôn mở các cuộc hành quân cảnh sát, mở các chiến dịch 'vì dân, thân dân' để truy lùng, vây ráp cán bộ cơ sở của ta.
Những hoạt động mới của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn làm cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta căng thẳng và phức tạp hơn trước. Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đứng trước thử thách lớn, đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc, kiên trì đấu tranh để đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi.
(Còn nữa)