ĐÀ NẴNG TRONG CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG CHIẾN LƯỢC 'VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH' CỦA MỸ (1969 - 1973) (Tiếp theo)
Đến cuối năm 1971, tình hình chiến trường miền Nam đã có những thay đổi. Kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh của địch bị đẩy lùi một bước quan trọng. Các cuộc hành quân tiến công vùng giải phóng của quân ngụy bị thiệt hại, khối quân chủ lực cơ động địch bị tiêu hao nặng. Tinh thần ngụy quân suy yếu. Hoạt động bình định của địch bắt đầu chững lại. Trong khi đó, hoạt động quân sự, chính trị, binh vận của ta ở các địa phương mạnh lên, thế trận chiến tranh nhân dân ở các địa phương đang được khôi phục. Các sư đoàn chủ lực quân giải phóng đã trở lại hoạt động trên các địa bàn trọng yếu.
Nhận thấy tình hình chuyển biến ngày càng có lợi cho cách mạng về so sánh lực lượng và về thế chiến lược, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương quyết định xúc tiến việc chuẩn bị để mở cuộc tấn công chiến lược năm 1972 trên toàn miền Nam, trong đó mặt trận Trị - Thiên được chọn là hướng tấn công chủ yếu. Khu 5, trong đó có Đà Nẵng là chiến trường phối hợp quan trọng.
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và của Khu ủy Khu 5, tháng 3.1972 Đặc khu ủy Quảng Đà đã họp đề ra nhiệm vụ cho thành phố Đà Nẵng phải tiếp tục đưa phong trào đấu tranh lên mạnh bằng 3 mũi giáp công diệt ác, phá kèm, giành quyền làm chủ ở phường, khóm, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị công khai, phối hợp kịp thời và chặt chẽ với phong trào ở nông thôn, và các đô thị khác ở miền Nam, giành những thắng lợi lớn hơn tạo điều kiện để tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.
Các quận của Đà Nẵng khẩn trương chuẩn bị lực lượng để thực hiện những nhiệm vụ mới. Các tổ chức quần chúng ở thành phố được củng cố và tăng cường. Nhiều tổ chức vũ trang bí mật được thành lập. Các đội du kích và biệt động được bổ sung thêm quân số và vũ khí.
Ngày 30.3.1972, quân ta đồng loạt nổ súng tấn công vào tuyến phòng thủ đuờng 9 - Quảng trị, Kon-Tum, rồi miền Đông Nam Bộ, Khu 5 và đồng bằng sông Cửu Long. Cuộc tổng tấn công chiến lược năm 1972 bắt đầu.
Tại chiến trường Trị - Thiên, quân ta đã phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch và tấn công giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị vào ngày 2.5.1972. Quảng Trị thất thủ làm cho địch hoang mang, một bộ phận binh lính và gia đình cùng nhân dân di tản vào Đà Nẵng vì lo sợ Huế thất thủ.
Tại Đà Nẵng, đêm 13 rạng sáng 14.4.1972, các tiểu đoàn pháo binh 575 và 577 pháo kích dữ dội vào sân bay Đà Nẵng, Nước Mặn và các trận địa pháo của địch ven thành phố, mở đầu cho chiến dịch trên địa bàn Quảng Nam - Đà Nẵng.
Trong thành phố, các lực lượng biệt động, tự vệ mật ngay trong đêm 13 và tiếp những ngày sau đó mở những trận đánh liên tục vào các bốt cảnh sát, các toán tuần tra, các cư xá Mỹ - ngụy gây cho địch nhiều thiệt hại.
Lực lượng chính trị của thành phố được chuẩn bị và dự định xuống đường đấu tranh trong ngày Phật đản 27.5.1972 và từ đó đưa cao trào lên cao, giành quyền làm chủ ở cơ sở. Nhưng từ ngày 16.5 và các ngày tiếp theo, Ban Chấp hành Tổng đoàn học sinh bị bắt. Địch nắm được kế hoạch và ra sức đánh phá, ngăn chặn, cho nên cuộc đấu tranh chính trị ở thành phố không thực hiện được.
Để đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố, ngụy quyền Đà Nẵng liên tiếp mở các chiến dịch 'Sao chổi 1', 'Sao chổi 2' nhằm săn lùng, truy bắt và đánh phá các sơ sở cách mạng trong nội thành. Nhiều tổ chức cách mạng ở các quận bị phá vỡ. Phong trào dấu tranh bị tạm thời chừng lại.
Trong khi đó ở khắp các chiến trường miền Nam, quân và dân ta vẫn tiếp tục tấn công địch, giành được những thắng lợi to lớn. Kết thúc cuộc tiến công chiến lược năm 1972, ta đã tiêu diệt và đánh thiệt hại 2 sư đoàn, 9 trung đoàn, 38 tiểu đoàn bộ binh, 12 trung đoàn thiết giáp, 17 tiểu đoàn pháo binh của quân ngụy Sài Gòn, giải phóng gần hết tỉnh Quảng Trị, Kon Tum, bắc Bình Định, hoàn chỉnh vùng giải phóng Đông Nam Bộ thuộc tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, mở ra vùng giải phóng mới ở đồng bằng Khu 5 và đồng bằng sông Cửu Long. Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ bị đẩy đến bờ vực của sự phá sản.
Trong khi đó, quân và dân miền Bắc đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 chiếc máy bay B52, bắt sống 43 giặc lái.
Ngày 30.12, Chính phủ Mỹ buộc phải đơn phương tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị nối lại cuộc đàm phán ở Paris.
Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược 1972 ở miền Nam và đánh bại cuộc tập kích bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, đã buộc đế quốc Mỹ phải ký hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam ngày 27.1.1973.
Với thắng lợi của việc ký Hiệp định Pari và Định ước quốc tế về Việt Nam, nhân dân ta đã giành một thắng lợi quyết định trong cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ chống đế quốc Mỹ xâm lược. Thắng lợi trên có phần đóng góp lớn của quân và dân thành phố Đà Nẵng.