ĐÀ NẴNG TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG TOÀN THẮNG (1973 - 1975)
Với thắng lợi của việc ký kết Hiệp nghị Pari chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày 27.1.1973, Bộ Chỉ huy quân đội viễn chinh Mỹ tổ chức cuốn cờ và sau đó, tướng Uây-en, Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ ở Việt Nam cùng với 2501 tên Mỹ cuối cùng lặng lẽ rời khỏi miền Nam Việt Nam. Thế là sau 115 năm kể từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng năm 1858, lần đầu tiên đất nước ta sạch bóng quân xâm lược. Đà Nẵng - thành phố cảng biển, là nơi đầu tiên quân thù đặt chân xâm lược từ thực dân Pháp đến đế quốc Mỹ, và cũng là nơi chứng kiến tên xâm lược cuối cùng rút khỏi miền Nam. Hơn ai hết, nhân dân Đà Nẵng quý trọng độc lập tự do vui mừng khôn xiết khi thành phố và đất nước sạch bóng quân xâm lược Mỹ.
Trước tình hình mới, ngày 28.1.1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi trong đó nhấn mạnh: 'Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam còn phải vượt qua nhiều khó khăn, trở ngại. Những thế lực quân phiệt phát xít công cụ của thực dân mới, đi ngược lại nguyện vọng của chủ nghĩa dân tộc ta và vẫn không từ bỏ những âm mưu phá hoại hòa bình, ngăn trở con đường độc lập tự do của nhân dân ta' và chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt cho nhân dân hai miền là: 'tăng cường đoàn kết, luôn luôn cảnh giác, ra sức phấn đấu để củng cố những thắng lợi đã giành được, giữ vững hoà bình lâu dài, hoàn thành độc lập dân tộc, dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước'. Cùng ngày uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam cũng ra lời kêu gọi tất cả các tầng lớp nhân dân, các tôn giáo, các dân tộc hãy xóa bỏ mọi hận thù, thực hiện hòa hợp dân tộc, cùng đồng bào cả nước kiên quyết đấu tranh củng cố hoà bình, phát huy thắng lợi, nhất định thực hiện được một miền Nam Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc.
Nhưng với bản chất phản động, hiếu chiến, ngay khi Hiệp định Pari ký kết chưa ráo mực, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã trắng trợn phá hoại hiệp định, mở những cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của ta. Bất chấp lệnh ngừng bắn, Nguyễn Văn Thiệu đã xua quân đi thực hiện kế hoạch 'Tràn ngập lãnh thổ'. Một lực lượng lớn gồm 60% quân chủ lực ngụy được tung vào các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng nhằm xóa thế da báo trên chiến trường. Với viện trợ to lớn mà Mỹ vừa dốc vào, các cuộc tấn công quân sự của quân ngụy mạnh mẽ không kém những năm trước. Cùng với các cuộc hành quân lấn chiếm, chúng tìm mọi cách khống chế ta về kinh tế, đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp. Thiệu còn ra lệnh bắn bỏ bất cứ ai khuyến khích hoặc tham gia biểu tình ủng hộ hòa bình, đòi thi hành Hiệp nghị Pari, bắn bỏ lính ngụy rã ngũ và những người chuyển từ vùng ngụy chiếm đóng về vùng giải phóng làm ăn sinh sống.
Tại Quảng Nam - Đà Nẵng, hai giờ sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, quân ngụy Sài Gòn đã tập trung tấn công càn quét các vùng tây Duy Xuyên, vùng B Đại Lộc, và các vùng tranh chấp giữa ta và địch. Tại thành phố Đà Nẵng, chúng thực hiện 'kế hoạch bảo vệ cơ sở' và đánh phá các lực lượng cách mạng ngay sau khi có lệnh ngừng bắn. Lực lượng cảnh sát dã chiến được thành lập và trang bị đầy đủ và thay thế quân đội trong việc đàn áp nhân dân. Chúng tăng cường canh gác, kiểm soát chặt chẽ việc ra vào thành phố, đặt nhân viên chìm trong các cơ quan, tổ chức nghiệp đoàn, đảng phái để đề phòng các cuộc xuống đường của nhân dân, bảo vệ nghiêm ngặt các kho tàng, đài phát thanh, các cơ quan ngụy quyền. Ngụy quyền ở Đà Nẵng phát động chiến dịch 'thân dân', đưa bọn công dân vụ và sĩ quan chuyên môn hành chính vào các cơ sở trong nhân dân để nắm bắt tình hình, thanh lọc, phá hoại cơ sở của ta, buộc công chức, binh lính, nhân dân phải gia nhập Đảng Dân chủ, đảng do Nguyễn Văn Thiệu thành lập từ 1971 để làm hậu thuẫn cho các hoạt động của chúng.
Trong khi đó ở miền Nam, ta chưa đánh giá hết âm mưu của địch, mất cảnh giác buông lỏng bạo lực và tư tưởng tiến công, có ý trông chờ vào uỷ ban quốc tế và Ban Liên hiệp quân sự. Một số cán bộ lãnh đạo sợ gây căng thẳng muốn hòa hoãn với địch, giữ thế ổn định một chiều. Lực lượng vũ trang của ta sau một thời gian chiến đấu ác liệt, sức khoẻ giảm sút, quân số và vũ khí chưa kịp bổ sung, xuất hiện tư tưởng hòa bình chủ nghĩa, muốn xả hơi. Vì vậy, trên một số địa phương quan trọng, địch đẩy mạnh lấn chiếm, bình định làm cho ta tiếp tục bị mất đất, mất dân.
Riêng ở Khu 5, đến giữa năm 1973, ta đã mất 2 vạn dân, 45 xã, 320 ấp, địch đóng thêm 200 đồn bốt.
Tại Quảng Đà, ta đã ra lệnh rút các lực lượng chủ lực, đặc công về các căn cứ huấn luyện xây dựng, giao việc chống lấn chiếm cho lực lượng địa phương, giải tán quân đội các quận, thành lập Ban Cán sự, (Ban 12) bên cạnh Ban chỉ huy quân sự Đặc khu Quảng Đà. Khu ủy Khu 5 chỉ thị cho các địa phương không tấn công khiêu khích địch để cho địch mất cảnh giác tạo điều kiện cho chúng ta có thời gian củng cố, xây dựng lực lượng chuẩn bị cho nhiệm vụ mới. Tình trạng trên kéo dài đến tháng 8.1973 làm cho lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng nề, các vùng giải phóng (tây Duy Xuyên, B Đại Lộc) bị địch lấn chiếm, phong trào đấu tranh ở nội thành bị lắng xuống.
(Còn nữa)