ĐÀ NẴNG TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG TOÀN THẮNG (1973 - 1975)
Sau khi Huế được giải phóng, Bộ Tổng tham mưu đã giao nhiệm vụ cho Mặt trận B5 phải nhanh chóng tập trung quân chuẩn bị sẵn sàng chuyển vào đánh hướng Đà Nẵng, tiêu diệt toàn bộ Quân đoàn I, Quân khu I của địch.
Mất Trị - Thiên - Huế, địch vẫn đánh giá ta mất ít nhất một tháng chuẩn bị mới có thể đánh vào Đà Nẵng được. Đây là thời gian để chúng củng cố lực lượng 'tử thủ' Đà Nẵng.
Ngay từ khi đang tấn công giải phóng Huế, ngày 23.3.1975, thường vụ Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu V đã họp phiên mở rộng và quyết định: Phấn đấu trong thời gian ngắn giải phóng hoàn toàn địa bàn quân khu. Nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là tập trung toàn bộ lực lượng đẩy mạnh tốc độ tấn công tiêu diệt sư đoàn 2 ngụy, giải phóng thị xã Tam Kỳ và tỉnh Quảng Ngãi, tạo thế chia cắt, cô lập hoàn toàn quân địch, tạo bàn đạp vững chắc cho trận tiến công quyết định tiêu diệt tập đoàn phòng ngự co cụm cuối cùng của Quân đoàn I ngụy ở Đà Nẵng.
Tam Kỳ là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Tín, đồng thời là căn cứ quân sự vòng ngoài bảo vệ Đà Nẵng. Ngày 24.3 ta giải phóng thị xã Tam Kỳ. Tại Quảng Ngãi, ngày 24.3 các lực lượng vũ trang tiến đánh vào thị xã và ngày 25.3 toàn bộ tỉnh này đã được giải phóng.
Chỉ sau vài ngày đêm chiến đấu liên tục và quyết liệt, quân và dân khu 5 đã tiêu diệt và làm tan rã sư đoàn 2 bộ binh địch, 2 liên đoàn biệt động quân, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi và phần lớn tỉnh Quảng Nam, phá vỡ tuyến phòng thủ ven biển phía nam thành phố Đà Nẵng. Một ngày sau khi ta giải phóng Quảng Ngãi, quân ngụy đóng tại căn cứ Chu Lai, một căn cứ quân sự lớn phía nam của Quân khu I ngụy đã bỏ chạy về Đà Nẵng. Nhưng thành phố Đà Nẵng đã bị bao vây, cô lập từ 3 phía bắc, nam và tây.
Trước thắng lợi dồn dập, ngày 25.8.1975, Bộ Chính trị đã họp và nhận định: 'Thời cơ chiến lược lớn đã tới. Trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này', do đó cần 'nắm vững thời cơ chiến lược tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo bất ngờ, làm cho địch không dự kiến kịp và không kịp trở tay' và 'quyết tâm hoàn thành giải phóng Sài Gòn và miền Nam trước mùa mưa (5.1975)'. Bộ Chính trị giao cho quân khu 5 và quân đoàn 2 là tập trung lực lượng tiêu diệt sư đoàn thuỷ quân lục chiến và toàn bộ quân địch co cụm tại Đà Nẵng, giải phóng thành phố và phần đất đai còn lại thuộc Quân khu I của địch.
Ngày 26.3, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh và Đảng ủy Mặt trận Quảng Đà (mật danh 475) do Trung tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh và Thượng tướng Chu Huy Mận - Tư lệnh Quân khu 5 - làm Chính ủy để trực tiếp lãnh đạo chỉ huy Quân đoàn 2 và quân dân Khu 5 đánh chiếm Đà Nẵng.
Đến lúc này, tại căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng, lực lượng địch còn khoảng 75.000 tên, gồm 15 tiểu đoàn chủ lực của Sư đoàn 3, Sư đoàn thủy quân lục chiến, tàu quân sự của Sư đoàn I, Sư đoàn II, Liên đoàn 12 biệt động quân, cùng 15 tiểu đoàn bảo an, 240 trung đội dân vệ, 5.000 cảnh sát, Sư đoàn I không quân với 373 máy bay các loại, 114 khẩu pháo, 70 xe tăng và xe bọc thép. Với số quân như trên, địch tổ chức phòng thủ Đà Nẵng thành 2 tuyến: tuyến vành đai do Sư đoàn thủy quân lục chiến, Sư đoàn 3 bộ binh cùng một số đơn vị Bảo an phụ trách. Tuyến trong do các đơn vị địa phương quân cùng lực lượng các quân binh chủng đảm nhiệm.
Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về kế hoạch tác chiến trong 2 năm 1975 - 1976, ngay từ đầu năm 1975, Khu uỷ Khu 5 và Đặc khu uỷ Quảng Đà đã lập kế hoạch chuẩn bị cho việc giải phóng thành phố Đà Nẵng. Dưới sự lãnh đạo của Đặc khu ủy, quân và dân Đà Nẵng đã đẩy mạnh 3 mũi giáp công hình thành thế bao vây đồn bốt, liên tục tấn công địch, cùng với lực lượng huyện mở rộng thế liên kết giữa các vùng, buộc địch phải co cụm để chuẩn bị hành lang và địa bàn cho hoạt động lớn. Một số Đảng uỷ vùng ven được giao nhiệm vụ mua và cất giấu lương thực, thuốc men, xăng dầu...chuẩn bị cho quân chủ lực hoạt động.
Bên cạnh việc đẩy mạnh các phong trào đấu tranh chính trị - binh vận của quần chúng, công tác tổ chức chia khu, nhập quận, sắp xếp cán bộ lãnh đạo chủ chốt, phát triển lực lượng bên trong, xây dựng bàn đạp được xúc tiến khẩn trương.
Chính nhờ vào việc chuẩn bị phong trào và thực lực như trên, Thị ủy Hội An và các Quận uỷ của Đà Nẵng đã đón nhận thời cơ giải phóng thành phố một cách tự tin và quyết thắng.
(Còn nữa)