ĐÀ NẴNG TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG TOÀN THẮNG (1973 - 1975)
Quán triệt tinh thần chuẩn bị khởi nghĩa, các quận uỷ trong thành phố đã xúc tiến mạnh mẽ công tác chuẩn bị tại chỗ. Các ban khởi nghĩa đã được thành lập ở các khu phố, khóm, các công sở, bến xe, nhà máy điện, nhà máy nước, bến cảng v.v...
Ngoài việc chuẩn bị thành lập các uỷ ban khởi nghĩa, các quận uỷ đặc biệt chú trọng vận động phong trào học sinh, sinh viên, coi đây là một lực lượng quan trọng trong việc nổi dậy áp đảo kẻ thù. Các quận uỷ còn chú trọng đến việc chuẩn bị hậu cần tại chỗ, lập kế hoạch trong việc bảo vệ, tiếp quản các kho lương thực, thuốc men trong thành phố chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công và nổi dậy.
Trong khi Đảng bộ và nhân dân Quảng Đà đang xúc tiến việc chuẩn bị đón thời cơ tổng khởi nghĩa thì tình thế chiến trường miền Trung chuyển biến một cách mau lẹ. Ngày 24.3 Tam Kỳ được giải phóng, ngày 25.3 ta chiếm thị xã Quảng Ngãi, và 25.3 thành phố Huế cũng đựơc giải phóng. Đà Nẵng đã bị cô lập hoàn toàn. Các lực lượng bộ đội chủ lực từ ba phía bắc - tây và nam được lệnh chuẩn bị tiến về Đà Nẵng. Tối ngày 27.3, đồng chí Võ Chí Công cùng các đồng chí trong Khu uỷ Khu 5 đã làm việc với Đặc Khu uỷ Quảng Đà, trao đổi cụ thể về phương án giải phóng thành phố. Một lần nữa, đồng chí Võ Chí Công khẳng định phải giải phóng Đà Nẵng bằng hai lực lượng tấn công quân sự và nổi dậy quần chúng, chậm nhất là ngày 3.4.1975, phải hoàn thành giải phóng thành phố.
Sáng ngày 28.3.1975, bộ phận đầu não của Đặc Khu uỷ Quảng Đà mở cuộc hành quân tiến về áp sát vùng ven Đà Nẵng. Đêm 28.3.1975, bộ phận chỉ đạo tiền phong của Đặc Khu uỷ do đồng chí Trần Thận trực tiếp lãnh đạo đã họp với Thường vụ Đặc Khu ủy mở rộng phân công các mũi tấn công vào thành phố. Thường vụ Đặc Khu ủy quyết định vào đêm 29 rạng ngày 30.3 sẽ phát lệnh đồng loạt tấn công và nổi dậy chiếm lĩnh thành phố.
Sau khi Đà Nẵng bị lâm vào thế cô lập và bị quân ta chia cắt ở hai đầu, tình hình thành phố từ ngày 26.3 ngập chìm trong 'cơn lốc tuyệt vọng', mặc dù Nguyễn Văn Thiệu điện cho Ngô Quang Trưởng kêu gào 'tử thủ Đà Nẵng'. 19 giờ ngày 27.3, Nguyễn Văn Thiệu còn lệnh cho Ngô Quang Trưởng phải điều sư đoàn thuỷ quân lục chiến vào trấn giữ Cam - Ranh thì quân ngụy ở Đà Nẵng càng rơi vào thế tuyệt vọng, trong lúc tuyến phòng thủ ven thành phố đang tan vỡ từng mảng trước sức tấn công và nổi dậy của quần chúng nhân dân.
Về phía ta, sau một ngày hành quân thần tốc sau chiến thắng Huế, ngày 28.3 các lực lượng vũ trang đã hình thành các mũi tiến công vào Đà Nẵng bao gồm lực lượng Quân đoàn 2 (sư 325 đảm nhiệm hướng bắc, Trung đoàn 9 hướng tây, Sư 304 hướng tây - nam), lực lượng Quân khu 5 đảm nhận hướng nam và lực lượng vũ trang Quảng Đà đảm nhận hướng đông và các mục tiêu trong thành phố. Quân chủ lực có nhiệm vụ tấn công khống chế sân bay và cảng Đà Nẵng, bao vây ven biển không cho địch tháo chạy.
5 giờ sáng ngày 28.3.1975, pháo binh ta nổ súng bắn vào Bà Rén, Vĩnh Điện, Hòn Bằng và 8 giờ bắn khống chế sân bay và hải cảng, mở đầu cho chiến dịch giải phóng Đà Nẵng. Các lực lượng bộ binh và thiết giáp bắt đầu tấn công các huyện thị vùng ven thành phố.
Do đã được chuẩn bị từ trước, ủy ban khởi nghĩa của các huyện, thị thuộc Quảng Nam đã được thành lập và nhất loạt phát động quần chúng nhân dân nổi dậy theo lệnh khởi nghĩa của Đặc Khu ủy Quảng Đà. Ngày 28.3 quận lỵ Duy Xuyên giải phóng, sáng ngày 29.3, huyện Đại Lộc, Điện Bàn, Hoà Vang, rồi đến thị xã Hội An - tỉnh lỵ Quảng Nam đã được giải phóng.
Như vậy, đến ngày 28.3 các cửa ngõ vào thành phố Đà Nẵng đã được khai thông. Tin thất trận từ các nơi bay về Bộ Tư lệnh của Ngô Quang Trưởng. Dân di tản từ Trị Thiên Huế, từ Tam Kỳ, Quảng Ngãi, từ nông thôn Quảng Nam tràn vào thành phố làm số dân ở đây từ 48 vạn tăng lên gần 1 triệu rưỡi. Thành phố rối loạn không thể nào kiểm soát nổi. Trong khi đó những chuyến máy bay Boeing 727 và máy bay lên thẳng chở cố vấn và nhân viên Mỹ di tản vào Sài Gòn liên tục cất cánh. Thành phố náo loạn. Lệnh 'bắn bỏ', 'tử thủ Đà Nẵng' của Ngô Quang Trưởng đã không còn tác dụng.
(Còn nữa)