Dù đã 55 tuổi nhưng sáng nào cô giáo Quảng cũng tất tưởi dậy sớm, lo một vài công việc gia đình để khoảng 6h bắt đầu lên đường “hành quân” đến làng thôn Hòa Vân dạy chữ. Trước khi đi dạy, ngoài sách vở, hành trang cô mang theo là một túi ba lô chứa đủ thứ thiết yếu: Nước, ni lông, vài ổ mì, một ít thức ăn nấu sẵn hoặc chế biến sẵn... và không quên chiếc đèn pin để đi qua hầm đường sắt. Quãng đường mà cô giáo Quảng đến với làng Vân dài độ 6km qua hầm, men theo đường sắt và những con dốc dựng đứng của ngọn đèo Hải Vân hiểm trở. Với tuổi cô, mỗi lần đi bộ như thế gần 2 tiếng đồng hồ...
Nguy hiểm nhất là đi qua hầm đường tàu. Cô giáo Quảng cho biết, đi men theo đường ray phải hết sức tinh mắt, thính tai thì mới nhận biết có tàu hay không, bởi tiếng tàu từ xa chẳng khác mấy tiếng sóng biển vỗ bờ. Phải đi vào mép hầm, mỗi khi tàu đi qua phải đứng yên không cử động ở phần dành cho người đi bộ tránh tàu. Nếu gặp tình trạng khẩn cấp không vào chỗ tránh kịp thời thì phải nằm im ngay xuống mép hầm. Và một kinh nghiệm “xương máu” là phải đi giày ba ta thì mới di chuyển nhanh nhẹn và tránh bị đá cắt chân.
Sau gần 2 tiếng đồng hồ, đến làng Vân, cô giáo Quảng nấu cơm và thức ăn mang theo cho bữa trưa để kịp cho giờ dạy buổi chiều. Tại trường, có một căn phòng nhỏ khoảng 15m2 đặt 1 chiếc bàn, 1 chiếc giường và 3 chiếc ghế bố để các cô giáo có chỗ nghỉ trưa. Chiếc nồi cơm điện của cô Quảng lúc nào cũng được nấu đầy, cô thường xuyên có khách ghé thăm. Nồi cơm đó, vừa dùng để nấu cơm, dùng để nấu canh, kho thức ăn và cả... nấu nước pha trà đãi khách. Giờ giải lao, các em học sinh vẫn sang uống nước từ chiếc nồi ấy. Tại ngôi trường nhỏ này, có hai cô giáo là Oanh và Huyền dạy văn hóa buổi sáng cũng từ xa đến. Và cô Quảng cũng thường nấu cơm canh lót dạ cho hai cô giáo trẻ ăn sau khi dạy xong rồi ra về.
Thông thường, giờ dạy của cô Quảng bắt đầu từ 13h và kết thúc khoảng 15h30. Dạy xong thì cô lại tất tả cho chuyến hành trình đi bộ trở về. Nhưng có những ngày trời mưa, gió quá dữ dội cô đành phải ở lại làng Vân. Bởi do địa thế nằm cạnh chân đồi, mép biển nên sóng gió ập vào làng phong hung dữ hơn những làng mạc khác.
Ý nguyện đưa ngoại ngữ đến làng Vân của cô Quảng đã có từ nhiều năm trước. Cô lý giải: “Các em cấp I ở làng Vân thiệt thòi nhiều so với các bạn cùng trang lứa, nhất là không được học tiếng Anh. Khi lên lớp 6, các em vào đất liền học chung chương trình ngoại ngữ, trong lúc vốn kiến thức của các em một chữ bẻ đôi không biết”. Để sớm thực hiện được ước mong đó, cô giáo Quảng xin nghỉ hưu sớm. Vừa nghỉ hưu, cô liền tức tốc đến đăng ký với Hội Khuyến học TP Đà Nẵng xin được ra dạy tiếng Anh từ thiện cho các học trò làng phong.
Sau hơn 2 năm gắn bó, đến nay hình ảnh cô giáo Quảng đã trở nên thân thuộc với mọi người dân ở làng Vân. Tại làng Vân, học sinh và người dân ở đây ít khi gọi cô Quảng bằng tên thật mà thường yêu mến gọi là “Cô ngoại ngữ”. Từ một danh từ chung thành danh từ riêng, bởi vì ở ngôi trường nhỏ này từ trước đến nay chỉ có cô Quảng là người duy nhất dạy ngoại ngữ cho các em. Học trò làng phong chủ yếu là cấp I, không đông nên cô Quảng ghép 3 lớp vào chung để dạy. Cả ba lớp 3, 4 và 5 có khoảng 15 học sinh. “Tuy điều kiện không được như những học sinh trong thành phố, nhưng các em rất siêng học và học rất nhanh. Đó là niềm vui mà các em dành tặng tôi sau chặng đường dài mệt mỏi”, cô Quảng nhận xét.
Ông Trần Hữu Đức, trưởng thôn Hòa Vân cho biết: Làng Hòa Vân hình thành từ năm 1968 sau khi chuyển bệnh nhân phong từ Bệnh viện Cẩm Hải (nay thuộc xã Điện Dương, Điện Bàn, Quảng Nam) do chiến tranh tàn phá. Từ năm 1998 thành lập thôn Hòa Vân. Hiện toàn thôn có 307 người/ 102 hộ; trong số đó có 57 bệnh nhân phong đang hưởng chế độ 240 ngàn đồng/ tháng.
Đời sống người dân chủ yếu dựa vào nông lâm ngư nghiệp và sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân từ thiện. Họ gặp rất nhiều khó khăn, giao thông cách trở, chỉ đi bộ, đi thuyền. Hiện Hòa Vân là thôn duy nhất không có xe máy, rải rác vài chiếc xe đạp.
Từ trước đến nay, thôn Hòa Vân đã có 10 em học ĐH, CĐ, THCN và hiện có 10 em đang theo học. Có được ngày hôm nay là nhờ các cô, thầy giáo đã “cõng” chữ ra làng Vân hàng chục năm nay. Nhất là từ khi có cô giáo Quảng tình nguyện dạy ngoại ngữ cho người dân Hòa Vân dường như có bộ mặt mới về giáo dục.