Chuyện về một xã vùng cao
Hòa Bắc là xã miền núi gồm 7 thôn là Tà Lang, Giàn Bí, Nam Yên, Phò Nam, Nam Mỹ, Lộc Mỹ và An Định.Hiện ở đây đang có hai dân tộc cùng sinh sống là Kinh và Cơ-tu, với tổng dân số 830 hộ có 3.406 nhân khẩu, trong đó bà con người Cơ- tu là 131 hộ với 552 nhân khẩu. Cách đây mười năm, điện lưới quốc gia đã về với thôn bản. Niềm vui từ những chiếc bóng đèn điện thay cho ánh đèn dầu leo lét đã thắp sáng niềm vui và từng bước, người dân đã được tiếp cận với nhịp sống chung của xã hội. Rồi, hệ thống cơ sơ hạ tầng; đường giao thông nông thôn được bê tông hóa; trường mẫu giáo, trường tiểu học được xây dựng, và cơ ngơi của các gia đình dân định cư hai bên đường ĐT 601 được xây dựng khang trang. Ở vùng quê này hôm nay, hầu như đi đến đâu tôi cũng gặp một màu xanh bát ngát của rừng mới trồng hoặc trồng đã lâu, của những bãi mía, bãi bắp ven sông, của những ngôi nhà mới ẩn hiện dưới khói bếp buổi chiều. Nhưng phải nói rằng, sự thay đổi rõ nét nhất trên một làng quê vừa bên sông, vừa bên núi này là sự thay đổi về dân trí. Ngày mới hình thành, ở đây không có trường học, không có trạm xá. Các lớp học bắt đầu ra đời khi những người giáo viên tình nguyện đầu tiên - mà chủ yếu là đội ngũ cán bộ của hội phụ nữ, đoàn thanh niên, bắt tay xây dựng trường lớp. Nắm bắt được những khó khăn, cấp ủy và chính quyền địa phương đã quyết tâm dành nhiều công sức để từng bước đầu tư xây dựng hệ thống trường học, trạm xá. Vượt qua không biết bao nhiêu khó ban đầu, đến hôm nay, toàn xã đã có được đầy đủ hệ thống trường học ba cấp: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, đã có 01 trạm y tế trung tâm nằm gần trụ sở UBND xã và 01 trạm xá quân - dân y kết hợp tại thôn Giàn Bí.
Xác định được tầm quan trọng của giáo dục, và hơn thế để con em dân tộc Cơ-tu được đến trường, cấp ủy và chính quyền địa phương đã xây dựng một kế hoạch cụ thể, vận động các gia đình cho con em đến lớp, trước mắt là để các em biết chữ rồi tiếp cận với tri thức để bước vào đời, về lâu dài là để phát huy tại chỗ nguồn nhân lực cho địa phương sau này. Trong năm 2009, công tác giáo dục ở đây đã đạt được những kết quả khả quan, cấp giáo dục mẫu giáo, mầm non ngày càng được nâng cao về chất lượng, đặc biệt là về chăm sóc sức khỏe cho các em. Nhiều giáo viên trẻ đã tình nguyện về đây, đem con chữ đến tận từng thôn bản. Như đầu năm học 2009 - 2010 này chẳng hạn, đã có 100% các em đến độ tuổi đi học cùng vào lớp một. Đối với cấp trung học cơ sở, trường đã có giáo viên giỏi, học sinh giỏi dự thi đạt giải cấp cơ sở và cấp thành phố. Hôm nay, chuyện con em trong xã thi đỗ đại học, cao đẳng đã không còn xa lạ. Một số gia đình có hai, ba người con đang theo học đại học, cao đẳng, trường nghề. Cũng phải nói rằng, do đặc thù là xã miền núi, một số em học sinh muốn đi học phải vượt sông, lội suối, đi bộ qua rừng để đi học , đó cũng là lý do để vẫn còn có em ở độ tuổi đi học đã phải nghỉ giữa chừng. Thấu hiểu điều đó và từ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, hiện ởxã Hòa Bắc đang tiến hành xây dựng thêm hai trường tiểu học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các em ở vùng sâu, vùng xa được đến trường.
Hòa Bắc là một xã miền núi thuần nông, với 85 ha diện tích đất trồng lúa, 300 ha diện tích đất trồng rau màu như mía, bắp, ớt, thuốc lá. Kết thúc vụ đông - xuân với diện tích 81 ha lúa được mùa, năng suất bình quân 57 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 462 tấn. Vụ hè - thu đã gieo trồng được 65 ha đạt 100% so với tổng diện tích đề ra trong kế hoạch của xã. Cây ngô lai mùa vừa qua trồng trên 110 ha đạt năng suất 660 tấn, diện tích trồng mía trên toàn xã có 75 ha, thu hoạch đạt từ 40 triệu đến 50 triệu/ha, với tổng giá trị từ cây mía đạt gần 4 tỷ đồng. Đời sống nhìn chung phát triển bởi sự kết hợp giữa nông nghiệp - lâm nghiệp - chăn nuôi. Trong điều kiện ở đây không có làng nghề truyền thống, không có thương mại dịch vụ,... vì thế câu hỏi: làm thế nào để đưa kinh tế của xã đi lên, đặc biệt là nâng cao chất lượng đời sống hàng ngày của bà con, vẫn là điều trăn trở của cấp ủy Đảng và chính quyền xã. Cùng chúng tôi đến thăm những gia đình làm kinh tế giỏi của xã, ông Nguyễn Ngưng, Chủ tịch UBND xã Hòa Bắc cho biết: - Mặc dù kinh tế - xã hội của xã còn nhiều khó khăn, nhưng cấp ủy, chính quyền địa phương luôn quan tâm chăm lo đời sống cho bà con, không để người dân thiếu đói, đặc biệt những ngày giáp hạt. Hiện nay 100% hộ dân của xã đã được vay vốn của Chính phủ để phát triển kinh tế hộ gia đình, đầu tư vào trồng rừng, nuôi bò, heo, gà, vịt. Tiêu biểu như hộ ông Đinh Minh Hải, Trần Văn Thời ở thôn Tà Lang, Đinh Văn Mai, Bùi Văn Bồng, Bùi Văn Xuân ở thôn Giàn Bí nhờ được vay vốn xóa đói giảm nghèo để phát triển kinh tế gia đình, mà đã giàu lên, và còn giúp đỡ nhiều hộ gia đình khác trong thôn cùng vay vốn làm giàu.
Những ngôi nhà mới
Nhiều năm qua các thôn ở xã Hòa Bắc hầu hết không có người sinh con thứ ba. Bà con dân tộc Kinh và Cơ-tu nơi đây đã biết tiết kiệm, không trông chờ, ỷ lại vào cấp trên, đã tự học cách làm giàu bằng việc phát triển chăn nuôi gia súc gia cầm. Hiện nay, ngoài điện thắp sáng và nước sạch đã đến với gần 100% hộ gia đình, thì hơn 50% số hộ có phương tiện nghe - nhìn, nhiều hộ có xe máy. Cũng khá lâu rồi, người dân ở Hòa Bắc đã không còn hộ thiếu đói, hiện toàn xã có 357 hộ nghèo theo chuẩn mới, trong kế hoạch năm 2009 sẽ giảm 77 hộ nghèo, xóa nhà tạm cho 13/17 hộ. Mấy năm trước, mỗi mùa lũ về, bà con ở thôn Nam Yên lại chống chọi với bao nhiêu bất trắc vì sạt lún đất, có năm nước lũ ngập cả làng. Năm 2007, TP Đà Nẵng đã có chủ trương giao cho huyện Hòa Vang triển khai đề án chống sạt lở ven sông Cu Đê. 100% hộ dân nằm trong vùng sạt lở được đưa đến nơi ở mới an toàn. Năm 2009, TP Đà Nẵng đầu tư gần 5 tỷ đồng, triển khai các hạng mục mới như san lấp mặt bằng mở rộng diện tích khu tái định cư, xây dựng hệ thống giao thông, xây dựng cống thoát nước, lắp đặt hệ thống điện, làm nhà họp thôn và trường mẫu giáo. Mỗi hộ gia đình nhận gần 400 m2 đất ở và 21 triệu đồng hỗ trợ di dời và xây dựng nhà cửa. Từ dự án này, một khu dân cư mới dọc tuyến đường ĐT 601 đã hình thành, nhiều ngôi nhà mái ngói đỏ tươi nằm bên chân núi. “An cư mới lạc nghiệp”, khu tái định cư này giúp người dân ven sông Cu Đê tránh nguy cơ sạt lở, từng bước ổn định cuộc sống. Mặc dù ở những khu tái định cư mới vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng trước mùa mưa bão, bà con có chỗ ở ổn định, đó đã là một cố gắng rất lớn của cấp ủy, chính quyền và nhân dân.
Chúng tôi gặp anh Đinh Văn Mai (26 tuổi), Trưởng thôn Giàn Bí - người được biết đến như một trong những người làm kinh tế giỏi của Hòa Bắc. Là đảng viên trẻ, nhiều năm qua anh như một tấm gương sáng điển hình cho thế hệ trẻ ở vùng quê này về ý chí tự lực, chịu thương, chịu khó. Năm 2001, cha anh mất bị bạo bệnh, nhà lâm vào cảnh túng thiếu nợ nần, một mình mẹ anh nuôi bà ngoại và 6 đứa con. Anh Mai chưa học hết cấp III phải nghỉ học nửa chừng để phụ giúp mẹ, lo cho các em được đến trường. Năm 2002, anh quyết định vay vốn xóa đói giảm nghèo, đầu tư trồng rừng, nuôi bò, trâu. Vừa làm kinh tế, vừa học hỏi kinh nghiệm từ nhiều người, anh vừa theo học bổ túc văn hóa. Và bây giờ, anh là cán bộ chuyên trách phòng chống tệ nạn xã hội của xã, vừa là sinh viên năm thứ hai, ngành quản trị kinh doanh, Đại học Mở Hà Nội (chi nhánh tại Đà Nẵng). Công việc chuyên môn bận rộn, lại phải cáng đáng việc gia đình, thế nhưng anh không ngừng phấn đấu. Đàn bò trong hà anh có khi lên tới vài ba chục con, nhờ đó gia đình anh đã bớt khó khăn, bốn người em có điều kiện để đi học. Anh tâm sự với chúng tôi: “Mình mong học được thật nhiều kiến thức, học hỏi từ bạn bè những kinh nghiệm làm kinh tế để sau này về phục vụ cho bà con. Làm kinh tế phải biết kết hợp với khoa học kỹ thuật thì mới mang lại hiệu quả. Mà kinh tế của xã còn nghèo quá, tôi muốn sau này là một người làm kinh tế giỏi, xây dựng một thương hiệu riêng cho đồng bào dân tộc Cơ-tu, tạo điều kiện giúp bà con có công ăn việc làm ổn định…”.
Đến Hòa Bắc hôm nay, khi nhắc tới cây cầu Tà Lang - Giàn Bí đang được xây dựng để nối liền hai thôn Tà Lang - Giàn Bí, là bà con mừng lắm, vì sẽ bớt lo mỗi mùa lũ về, không còn nỗi sợ mỗi khi qua sông bằng mấy chiếc phao làm từ săm xe máy đầy bất trắc. Tôi nhớ mãi cái bắt tay rất chặt của anh Trần Văn Thời, trưởng thôn Tà Lang khi tiễn chân chúng tôi bên bờ suối: “Mai kia lên Tà Lang sẽ được có đi bằng cầu mới rồi, bà con vui cái bụng lắm”. Tôi thấy trong câu nói của anh như chứa đựng niềm mong mỏi của bà con nơi đây. Chia tay Hòa Bắc khi ánh chiều đã nhạt dần phía núi và mái bếp của mọi nhà đã bập bùng ánh lửa, tôi những tin một ngày không xa, ở Hòa Bắc xa mà gần này, sẽ có thêm nhiều niềm vui mới.
(Anh Đào)