Một thực tế là Đà Nẵng không có sẵn những vốn lớn về văn hoá vật thể và phi vật thể để kế thừa, khai thác nếu so sánh với những nơi như Hà Nội, Huế hoặc ngay cả với Quảng Nam. Nhưng nếu nhìn chung trong tất cả các tỉnh, thành phố thì nhiều nơi cũng có tình hình giống như Đà Nẵng, không phải đâu đâu cũng có sẵn những di sản văn hoá lớn, những đặc trưng đã định hình.
Nói thế nhưng không phải vốn liếng Đà Nẵng là con số không. Chúng ta không có vốn lớn, nhưng nếu biết tận dụng, nhặt nhạnh trong gia sản của ta và gom góp nâng niu thì cũng có cái để tiếp tục làm nên bản sắc, làm nên đặc trưng. Xin nêu một số vốn có thể dùng:
1. Đà Nẵng có thể trở thành một nơi duy nhất trong cả nước có một bảo tàng lớn, phong phú, đầy đủ về cuộc kháng chiến yêu nước của nhân dân miền Trung và Tây Nguyên trong thế kỷ XIX và XX. Về địa điểm, trong quá khứ, Đà Nẵng đã là nơi đầu tiên đối đầu với tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; hiện nay Đà Nẵng có sân bay, cảng biển, đường sắt, đường bộ thuận lợi và là trung tâm để các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên tụ hội, đóng góp hiện vật cũng như đến xem, học tập tại bảo tàng loại này; đó là địa lợi vậy. Về con người, hiện nay chúng ta có nhiều vị lão thành cách mạng đã trải qua các thời kỳ kháng chiến đang cư trú tại Đà Nẵng, sẵn sàng tư vấn, làm chứng nhân cho chúng ta xây dựng đề cương trưng bày bảo tàng. Đà Nẵng còn là trung tâm của Quân khu V, do đó dễ có sự hỗ trợ về tư liệu, hiện vật liên quan đến 2 cuộc kháng chiến; đây là nhân hoà vậy. Thời kỳ hiện nay, thế giới thích đi du lịch, đặc biệt là dân các nước công nghiệp phát triển, giàu có thích loại hình du lịch văn hoá, tìm hiểu cuộc chiến đấu kỳ lạ của một đất nước nhỏ bé xa xôi đánh thắng 2 đế quốc lớn, loại bảo tàng này rất là hấp dẫn với họ. Đặc biệt dân Mỹ, dân Pháp và các nước thân Pháp, thân Mỹ trước đây luôn cảm thấy lịch sử đất nước họ có một phần dính líu với chiến tranh tại Việt Nam; ở đất nước họ, họ chỉ mới biết từ một phía, họ rất muốn đến các bảo tàng loại này để biết thêm sự thực từ phía bên kia. Vậy nếu ta có bảo tàng này, sẽ không sợ không có người đến xem, thậm chí còn thu được tiền nữa. Đây chẳng phải là thiên thời sao?
2. Đà Nẵng có thể trở thành một thành phố của nghệ thuật điêu khắc đá nổi tiếng thế giới. Chúng ta đã có một làng nghề điêu khắc đá ở Non Nước, Ngũ Hành Sơn, có nhiều nghệ nhân giỏi. Tượng đá của thợ đá Non Nước đã đi khắp nơi trên thế giới. Nay chỉ cần tổ chức lại một chút, Đà Nẵng sẽ là một trung tâm của nghệ thuật điêu khắc đá, ở đó sẽ có nhiều nhà điêu khắc lớn trên thế giới đến để chế tác tượng, ở đó sẽ cung cấp nhiều nghệ nhân đi các nước để thực hiện các công trình bằng đá bao gồm các sáng tác mới lẫn trùng tu di tích bằng đá. Điều này không phải là viển vông. Hiện nay nghệ sĩ mang đá từ nước này đến nước khác để chế tác, xong lại mang đi trưng bày, bán ở nước khác là chuyện bình thường. Ở Ý đang có một nơi thu hút nhiều nghệ sĩ toàn châu Âu đến làm tượng, nhưng nay chi phí ở đó đã có phần đắt đỏ, nếu Đà Nẵng có một trung tâm, họ sẵn sàng đến.
Trước đây, chúng ta nghĩ việc chở vài tấn đá thô từ nước này sang nước khác để đục đẽo là chuyển viển vông, nhưng nay chúng ta biết người ta đã gửi đường biển từ Na Uy qua Đà Nẵng mấy chục tấn đá thô để chế tác thành chiếc cầu ghép với đá của Việt Nam rồi chở tất cả trở lại Nauy để lắp đặt. Tôi cũng biết một anh bạn nghệ sĩ điêu khắc thường xuyên chở trên chiếc xe tải mini của anh từ Nauy một tảng đá vượt qua eo biển Đan Mạch, băng qua Đức, đến Ý để có thợ tạc tượng cho anh, xong lại chở về Nauy, cũng trên chiếc xe tải mini do anh tự lái.
Lập một trung tâm như thế ở Đà Nẵng là rất khả thi và rất nhanh nổi tiếng trên thế giới đồng thời sẽ có thu nhập. Tuy nhiên, muốn hiệu quả phải có đầu tư ban đầu của ngân sách, phải có người điều hành giỏi, và không thể đòi hỏi tự cân đối chi phí ngay từ những năm đầu. Cũng có các tổ chức nước ngoài muốn tham gia làm việc này. Nhưng đây là cái vốn của ta, ta nên nghĩ cách dùng. Số tiền mà ngân sách đầu tư vào đây bên cạnh tạo công ăn việc làm và lợi nhuận là để tạo thương hiệu, tạo đặc trưng cho thành phố. Không nơi nào ở Việt Nam có lợi thế như Đà Nẵng để làm việc này. Một danh thắng Ngũ Hành Sơn đã là niềm tự hào của người dân Đà Nẵng qua bao đời, là biểu tượng của thành phố Đà Nẵng, chúng ta phải làm cho danh thắng này đẹp thêm lên với việc quy hoạch nhiều khu vực trồng cây, trồng rừng bao quanh danh thắng. Chúng ta đã thành công trong việc di dời dân để làm nhà máy, khu chế xuất, trung tâm thương mại, vậy chúng ta có thể di dời dân để trồng thêm cây xanh, tạo môi trường, cảnh quan cho một danh thắng. Điều này không phải là lãng phí đất, mà lại lợi cả hai, ba đường: vừa thu hút du lịch lấy tiền, vừa có môi trường tốt cho sức khoẻ, vừa tạo thương hiệu, tạo đặc trưng cho thành phố. Chúng ta khai thác vốn làng nghề của Non Nước để làm cho Ngũ Hành Sơn thêm nổi tiếng với một Trung tâm điêu khắc đá.
Và nếu những thập niên tiếp theo, ở các công viên của Đà Nẵng có nhiều tượng nghệ thuật đá, nếu có nhiều công trình công cộng và tư nhân xây dựng bằng chất liệu đá, thì chẳng lo gì Đà Nẵng sẽ được cả nước và thế giới biết đến như một thành phố của nghệ thuật điêu khắc đá.
3. Đà Nẵng sẽ là một thành phố của lễ hội đua thuyền rồng quốc tế. Hiện nay địa phương, tỉnh thành nào cũng thi nhau làm lễ hội, làm festival, đến độ trùng lắp nhau, không có một đặc trưng, điểm nhấn nào của lễ hội, đành phải gọi chung chung là lễ hội văn hoá - du lịch. Một festival cần có một điểm nhấn, một hoạt động trung tâm và nhiều hoạt động ngoại vi. Cứ mạnh dạn 2 năm tổ chức một lần lễ hội đua thuyền rồng, mời các đội thuyền nước ngoài đến thi, trong dịp đó ta tổ chức thêm nhiều hoạt động văn hoá - du lịch khác, nhưng tên gọi vẫn cứ gọi là Lễ hội đua thuyền rồng Đà Nẵng. Nếu cứ 2 năm tổ chức được một lễ hội đua thuyền rồng quốc tế trên sông Hàn thì chẳng cần lễ hội, festival khác, Đà Nẵng vẫn nổi tiếng là thành phố của lễ hội đua thuyền.
Đây là một loại lễ hội rất “văn hoá” và lại là rất đặc trưng của văn hoá Đông Nam Á, xứ sở của sông nước. Quảng Nam, Đà Nẵng có truyền thống tổ chức lễ hội đua thuyền lâu đời. 30 năm qua, năm nào chúng ta cũng tổ chức 1, 2 lần đua thuyền. Và ít có dòng sông nào ở Việt Nam lại có cảnh quan hai bên sông đặc biệt thuận lợi để tổ chức lễ hội đua thuyền như sông Hàn của Đà Nẵng. Những điều này là vốn của Đà Nẵng để khai thác, phát huy, không cần phải tìm đâu khác.
Gần đây, đồng chí Bí thư Thành uỷ có ý tưởng tổ chức cuộc thi pháo hoa quốc tế tại Đà Nẵng và thành phố đang trình Chính phủ để xin phép. Nếu ý tưởng này trở thành hiện thực thì đây cũng sẽ trở thành một đặc trưng mới của Đà Nẵng, thành phố của lễ hội pháo hoa quốc tế.
4. Đà Nẵng nên có một đội ca múa nhạc dân tộc và sẽ trở thành một đội “ăn nói ” của thành phố. Đà Nẵng đã giữ được Đoàn Tuồng, đã xây được một Nhà hát, duy trì được một đội ngũ diễn viên. Ngoài ra, hiện cư trú tại Đà Nẵng có những người am hiểu dân ca khu V, có nghệ sĩ biểu diễn nhạc cụ dân tộc, có diễn viên đang học múa rối, học các điệu múa Chăm.... Nếu tổ chức được một đội ca múa nhạc dân tộc thì rất nên làm để vừa bảo tồn nghệ thuật truyền thống vừa phục vụ một nhu cầu thực tiễn và kể cả để tổ chức các cuộc đi giao lưu văn hoá với nước ngoài. Thử hỏi, nếu ta cần đưa một đoàn biểu diễn nghệ thuật đi nước ngoài tham gia giao lưu hoặc một tổ chức nước ngoài muốn mời một nhóm nghệ sĩ biểu diễn, Đà Nẵng sẽ cử một đoàn như thế nào? Chắc chắn là phải xây dựng một kịch bản gồm các trích đoạn dân ca, tuồng, trình diễn nhạc cụ dân tộc mới có sức thu hút khán giả nước ngoài.Và lúc ấy, diễn viên, nhạc công ca múa nhạc dân tộc không phải là những nghệ sĩ “chân quê” mà có dịp ra nước ngoài để biểu diễn, tham quan, học hỏi. Và trong xu thế phát triển của Đà Nẵng, nhiều hội nghị quốc tế lớn sẽ được tổ chức tại Đà Nẵng, những đoàn cấp cao sẽ đến với Đà Nẵng, những dịp ấy, ta mời khách xem loại hình biểu diễn nào, nếu không là các tiết mục ca múa nhạc dân tộc?
Tóm lại, không nên chỉ dừng lại với nhận định “Văn hoá Đà Nẵng thiếu bản sắc, chưa có đặc trưng”, mà cần có quyết tâm “Thiếu bản sắc hãy làm nên bản sắc, chưa có đặc trưng, phải sáng tạo đặc trưng.”
(Võ Văn Thắng)