Kỳ họp thứ 8 của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng khoá VII diễn ra hồi cuối tháng 12 năm 2006, đã ban hành chủ trương miễn thuỷ lợi phí cho nông dân trên địa bàn thành phố. Sau đó không lâu, UBND thành phố có Quyết định số 21/2007/QĐ-UBND cụ thể hoá chủ trương trên. Theo đó, các hộ nông dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng được miễn toàn bộ thuỷ lợi phí hàng năm. Tổng số tiền được miễn ước tính khoảng 3 tỷ đồng/năm.
Một chủ trương được lòng dân
Đứng giữa cánh đồng lúa Hoà Xuân đang thì con gái, lượn sóng xanh mướt trong nắng chiều, anh nông dân Nguyễn Văn Hoà bày tỏ niềm vui về chủ trương đúng đắn của thành phố: “Có thể nói Đà Nẵng là một trong những đơn vị đi đầu cả nước trong việc miễn thuỷ lợi phí hoàn toàn cho nông dân. Kịp thời đem lại những hiệu quả to lớn về kinh tế và chính trị- xã hội; các hộ nông dân được giảm bớt chi phí sản xuất, có điều kiện tăng năng suất lúa, tăng thu nhập, cải thiện đời sống. Chủ trương này đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn. Là vụ đầu tiên được hưởng chính sách này nên ai cũng vui, nó như một luồng gió mới, đầy phấn khởi, kích thích sản xuất đối với nông dân toàn thành phố”. Đến một số vùng ngoại thành, bên những thửa ruộng lúa tốt tươi, dấu hiệu của sự no nước từ kênh mương thuỷ lợi, đã nghe người nông dân trình bày chung một ý nghĩ: 'Được miễn thuỷ lợi phí bắt đầu ngay từ vụ Đông Xuân vừa rồi, bà con ai cũng phấn khởi hết, nhà nước quan tâm như ri phải chăm lo sản xuất thôi'. Đọc được nét rạng ngời trên từng khuôn mặt đen sạm vì nắng gió hôm nay, thấy rằng, việc miễn thuỷ lợi phí đã phần nào sẻ chia bớt những nhọc nhằn của người nông dân chân lấm tay bùn.
Thành phố đang tiến vào thời kỳ đô thị hoá, nên một điều thấy rõ là diện tích đất ruộng cho canh tác bị thu hẹp lại. Vì thế, đằng sau quyết định miễn thủy lợi phí này, có nét tích cực của nó, các hộ nông dân tranh thủ khai hoang, phục hoá, tận dụng lại những chân ruộng xấu mà trước đây sản xuất không hiệu quả. Qua đó, diện tích đất sản xuất đã nhanh chóng tăng lên hàng trăm héc-ta. Mặt khác, cơ quan quản lý khai thác các công trình thuỷ lợi, do không phải thường xuyên đi thu thuỷ lợi phí nữa, nên có điều kiện tập trung vào công tác chuyên môn, xử lý kỹ thuật các công trình thuỷ lợi, đảm bảo việc cung cấp nước tưới cho nông dân.
Cần tích cực giải quyết những vướng mắc từ thực tế
Ông Mai Mã, Phó GĐ Công ty Quản lý và Khai thác thủy lợi cho biết: 'Điều đáng lưu ý khi thực hiện chủ trương miễn thuỷ lợi phí chính là sự phân công và trách nhiệm của những người làm việc tại các công trình thuỷ lợi, đặc biệt là những người phụ trách kênh mương nội đồng'. Khi miễn thuỷ lợi phí, Công ty Quản lý và Khai thác thuỷ lợi vẫn tiếp tục ký hợp đồng cung cấp nước cho các địa phương và các hợp tác xã. Công ty chỉ quản lý đến hệ thống kênh cấp 2. Còn việc quản lý, sử dụng nguồn nước, làm vệ sinh nội đồng vẫn do các địa phương tổ chức thực hiện và kinh phí cho công tác thuỷ nông nội đồng vẫn do người nông dân chi trả. Lâu nay, mạng lưới thuỷ nông nội đồng có xu hướng hoạt động cầm chừng, do ở nhiều nơi nguồn kinh phí cho công tác này quá ít. Vì vậy, khi miễn thuỷ lợi phí, hoạt động thuỷ nông nội đồng phải được các địa phương tăng cường hơn nữa, nhằm đảm bảo việc tưới tiêu kịp thời, tiết kiệm cho các hộ nông dân.
Thực tế là trước đây khi phát hiện ra những hư hỏng nhỏ tại tuyến kênh mương nội đồng, địa phương có thể chủ động tạm ứng từ nguồn thuỷ lợi phí đã thu để khắc phục kịp thời sự cố và sẽ thanh toán lại với công ty Khai thác thuỷ lợi. Nhưng hiện nay, việc duy tu, bảo dưỡng, khắc phục sự cố hoàn toàn phụ thuộc vào đơn vị cung cấp dịch vụ thuỷ lợi và như vậy khó tránh khỏi những phiền hà trong việc phục vụ đối với nông dân. Điều đáng lo ngại nhất vẫn là việc nhiều công trình thủy lợi, do không được duy tu bảo dưỡng thường xuyên, sẽ xuống cấp, không đáp ứng được yêu cầu sản xuất…
Việc miễn thu thuỷ lợi phí cũng làm nảy sinh những vướng mắc nhất định. Có khi cùng một nguồn kênh dẫn nước nhưng người nông dân thành phố Đà Nẵng được miễn thuỷ lợi phí trong khi người anh em Quảng Nam ngay thửa ruộng bên cạnh lại phải đóng thuỷ lợi phí đến hàng triệu đồng/năm. Lâu nay, Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam vẫn thực hiện việc tưới tiêu cho nhau (150 héc ta đất của Điện Bàn hưởng nhờ thuỷ lợi Đà Nẵng và ngược lại khoảng hơn 400 héc ta đất Đà Nẵng được thuỷ lợi Quảng Nam tưới tiêu).
Quyết định miễn giảm thủy lợi phí là chính sách “khoan sức dân”, mọi nông dân ai cũng vui mừng. Nhưng không phải dừng lại ở đấy mà thành phố cần tiếp tục đầu tư, nâng cấp các công trình thủy lợi, tổ chức kiện toàn lại mạng lưới thuỷ nông nội đồng, và cần có sự phân công trách nhiệm giữa các bên tham gia trong công tác quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi. Cũng cần nâng cao tinh thần và thái độ phục vụ của cơ quan quản lý khai thác thuỷ lợi, tránh tình trạng độc quyền dẫn đến cơ chế xin-cho, bất công bằng. Làm được như vậy, mới mong Nghị quyết miễn thủy lợi phí thực sự là niềm vui, giúp tăng năng suất trên từng thửa ruộng của người nông dân.
(Nghi Thảo)