Đồng bào dân tộc thiểu số thành phố Đà Nẵng sống tập trung chủ yếu ở 3 thôn Phú Túc xã Hoà Phú, Tà Lang, Giàn Bí xã Hoà Bắc huyện Hoà Vang với 217 hộ, 894 nhân khẩu, trong đó, thôn Phú Túc có 86 hộ, 333 nhân khẩu; thôn Tà Lang có 60 hộ, 233 nhân khẩu và thôn Giàn Bí có 71 hộ và 328 nhân khẩu. Trong những năm qua, đặc biệt là sau khi có Nghị quyết Trung ương 7 (khoá IX) về công tác dân tộc, Đảng và chính quyền các cấp đã đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ, và tạo điều kiện cho các địa phương có đồng bào dân tộc sinh sống cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, từng bước thoát nghèo.
Đến nay, tại các địa bàn các xã miền núi có đông đồng bào dân tộc sinh sống, đã xây dựng hệ thống đường dây 12km trung hạ thế với 5 trạm biến áp và hỗ trợ đồng hồ đo đếm tại nhà. 100% số hộ đồng bào dân tộc được sử dụng điện lưới quốc gia để thắp sáng và sản xuất. Về nước sinh hoạt, Chương trình định canh, định cư đã đầu tư xây dựng một số công trình nước sạch; thực hiện Chương trình 134 về một số chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (Chương trình 134), đã xây dựng xong 2 công trình nước sinh hoạt tập trung. Đến nay 100% hộ đồng bào dân tộc đã có nước sạch sinh hoạt. Về giao thông, hiện tại 3 thôn đồng bào dân tộc có 2 tuyến đường ĐT 601 và ĐT 604 được đầu tư từ ngân sách thành phố, đi lại tương đối thuận lợi. Đường nội vùng khu dân cư đã được quy hoạch hoàn chỉnh, hiện đã xây dựng được 5,2 km đường giao thông cấp phối đất đồi, trong đó đầu tư làn bê tông mặt đường 1,2 km tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại sinh hoạt của nhân dân.
Thực hiện chủ trương giải quyết đất ở định canh, định cư cho đồng bào dân tộc, từ năm 1999 - 2005 đã đầu tư san ủi 15,13 ha đất ở, tập trung ở 3 khu dân cư để đưa 108 hộ trước đây sống rải rác ven sông suối, khu vực thường xuyên bị lũ lụt đe dọa đến định cư, bình quân mỗi hộ được giao 1.400m2. Về nhà ở, thực hiện chủ trương xoá nhà tạm cho đồng bào dân tộc và Chương trình 134, đến nay đã xây dựng được 114 căn nhà cấp 4 lợp tôn với diện tích mỗi căn từ 32 - 38 m2 . Về đất sản xuất, do phần lớn khu vực sinh sống của đồng bào nằm ở vùng đồi núi có địa hình dốc cao, khó có điều kiện mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, thành phố đã có phương án giao đất lâm nghiệp, đảm bảo 3ha/hộ, để giải quyết đất sản xuất tạo điều kiện cho đồng bào phát triển kinh tế, cải thiện đời sống. Về công tác xóa đói giảm nghèo, đến năm 2005 không còn hộ đồng bào dân tộc thuộc diện đói, nghèo (theo Quyết định số 1143/2000/QĐ-BLĐTBXH ngày 01/11/2000 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội). Đến năm 2006, theo quy định tại Quyết định số: 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 thì không còn hộ đồng bào dân tộc thiểu số đói và số hộ nghèo là 184 hộ.
Qua các năm thực hiện chính sách định canh, định cư ở thành phố Đà Nẵng đã tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng bào tin tưởng vào đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước quan tâm giúp đỡ đồng bào vươn lên để phát triển kinh tế, từng bước rút ngắn khoảng cách giảm nghèo giữa miền núi và miền xuôi. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách định canh, định cư trong những năm qua hiệu quả mang lại chưa cao, nguyên nhân chủ yếu là các cấp chính quyền chưa coi trọng công tác định canh, định cư, việc đầu tư hỗ trợ sản xuất cho đồng bào dân tộc còn phân tán nhiều ngành, nhiều cấp, thiếu tập trung về đầu mối của cơ quan chức năng làm công tác dân tộc miền núi.
Hệ thống giáo dục được thành phố quan tâm đầu tư với 3 trường mẫu giáo tại 03 thôn có đồng bào dân tộc với 3 giáo viên và 61 học sinh. Để khuyến khích cha mẹ gửi con vào trường mẫu giáo, Nhà nước hỗ trợ mỗi cháu học sinh con em của đồng bào dân tộc là 30.000 đồng/ tháng. Bên cạnh đó, mỗi thôn đều có trường Tiểu học với 10 phòng học với 10 giáo viên và 112 học sinh; đồng thời, để khuyến khích và tiến tới xoá mù bậc tiểu học, thành phố đã hỗ trợ mỗi cháu học sinh con em của đồng bào dân tộc là 100.000 đồng/ tháng. Về trường trung học cơ sở, có 2 trường tại 2 xã với 98 học sinh và 43 giáo viên, Nhà nước hỗ trợ mỗi cháu học sinh con em của đồng bào dân tộc là 250.000 đồng/ tháng.
Ngoài ra còn có trường nội trú cho con em đồng bào dân tộc tại xã Hoà Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi cho các em học tập. Tuy không có trường Phổ thông trung học trên địa bàn, nhưng hiện có 18 học sinh cấp 3 là đồng bào dân tộc thiểu số được Nhà nước hỗ trợ mỗi học sinh con là 300.000 đồng/ tháng. Riêng trường hợp đào tạo nghề cho con em đồng bào dân tộc, đã có 3 thiếu sinh quân, 2 trung cấp công an, 2 trung học y tế.
Về lĩnh vực y tế, trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc hiện có 1 trạm xá Quân dân y kết hợp, đóng tại thôn Giàn Bí do Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đà Nẵng quản lý để điều trị cho đồng bào kết hợp phục vụ quân đội. 100% đồng bào dân tộc đều có phiếu khám chữa bệnh miễn phí, trẻ em được tiêm đầy đủ các loại vacxin. Nhìn chung, mạng lưới y tế trên địa bàn hoạt động có hiệu quả, khám và điều trị bệnh kịp thời cho nhân dân.
Ở các thôn đều được cấp phát các báo, tạp chí không thu tiền, có “Bưu điện văn hoá xã” để phục vụ nhân dân. Ngoài việc xây dựng mới 3 nhà Gươl, khôi phục y phục dân tộc cổ truyền của người Kơtu; phong tục văn hoá cồng chiêng trong các lễ hội được duy trì, tạo mọi điều kiện cho đồng bào dân tộc giữ vững bản sắc văn hoá truyền thống, đồng thời hòa nhập cộng đồng xây dựng đời sống văn hoá mới trong khu dân cư.
Hệ thống chính trị cơ sở được xây dựng, củng cố và đi vào hoạt động đồng bộ, luôn phát huy được năng lực đào tạo, bồi dưỡng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, đoàn kết thống nhất giữa Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể với đồng bào là người Kinh và người dân tộc thiểu số. Nhờ vậy, tình hình an ninh chính trị trên địa bàn luôn luôn được giữ vững, kinh tế xã hội được phát triển.
Bên cạnh nhưng thành quả tích cực, rất đáng ghi nhận, vẫn còn một số tồn tại cần được quan tâm. Đó là: nền kinh tế ở miền núi và các vùng dân tộc vẫn còn chậm phát triển. Tỷ lệ hộ nghèo, thu nhập bình quân đầu người ở nhiều vùng dân tộc còn rất thấp so với bình quân của thành phố (tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới của thành phố năm 2006 là 11,08%, tỷ lệ đói nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số là 85%). Một số bản sắc tốt đẹp trong văn hoá của dân tộc thiểu số đang bị mai một. Chất lượng, hiệu quả về giáo dục và đào tạo còn thấp….
Tóm lại, sau 4 năm thực hiện Nghị quyết TW 7, quyền bình đẳng và sự đoàn kết giữa các dân tộc cơ bản được thể hiện trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội. Nền kinh tế nhiều thành phần ở miền núi và vùng dân tộc từng bước được hình thành và phát triển. Đời sống của đồng bào dân tộc được cải thiện rõ rệt, không còn hộ bị đói, đời sống kinh tế xã hội được nâng lên, cơ sở hạ tầng từng bước được hoàn thiện. Tình hình chính trị, trật tự xã hội cơ bản được ổn định; an ninh quốc phòng được giữ vững. Diện mạo các xã miền núi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống của thành phố Đà Nẵng mối ngày thêm khởi sắc.
(Dân Hùng)