Thành phố Đà Nẵng, với nguồn tài nguyên biển phong phú, có thể sẽ trở thành vùng Côte d’Azur của nước Pháp, nơi được xem là vùng đất du lịch, công nghiệp mới hấp dẫn và nhiều triển vọng. Vì thế, Đà Nẵng cần rút kinh nghiệm từ hoạt động phát triển kinh tế của Nhật Bản trong quá trình hiện đại hóa nền kinh tế biển. Bài viết này nêu lên tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và đề xuất giải pháp quản lý biển thân thiện để Đà Nẵng có thể trở thành một thành phố phát triển bền vững.
Chính sách công nghiệp hóa vùng bờ của Nhật Bản
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chính phủ Nhật Bản thành lập “kế hoạch phát triển tổng thể lần thứ nhất” với chính sách phát triển tập trung vào công nghiệp hóa dầu (1956) và công nghiệp hóa 15 thành phố cùng sáu quận. Các vùng công nghiệp trọng điểm tập trung ở các vùng bờ biển và vùng thủy triều. Nhiều biện pháp cải tạo đã được đưa ra để lấy đất xây dựng cảng và phát triển công nghiệp.
Theo Bộ Môi trường Nhật Bản, hơn một phần hai bờ biển Nhật Bản là nhân tạo và bán nhân tạo. Ở Tokyo đất thủy triều chiếm 10% tổng diện tích đất và 95 bờ biển của thành phố này là nhân tạo, bởi có rất nhiều dự án phát triển vùng nước biển. Thành phố Kobe phải cải tạo đất núi để phát triển các khu dân cư, nhường mặt tiền biển cho công nghiệp.
Tuy nhiên sau khi phát triển công nghiệp, những gì còn lại là vùng biển ô nhiễm và suy thoái do nước thải công nghiệp gây nên. Nhật Bản đã mất đi rất nhiều bờ biển xinh đẹp. Cách quản lý sai lầm này đã ảnh hưởng nhiều đến nguồn lợi thủy sản trong khu vực. Theo sách trắng (chuyên về môi trường ở Nhật Bản), có 313 loài thủy hải sản đã bị nguy hại bởi ô nhiễm nước. Một số bãi tắm bị cấm bơi lội bởi chất lượng nước quá xấu.
Chiến lược mới của Nhật Bản
Với nhiều vấn đề nghiêm trọng ở vùng biển, người dân cũng như ngư dân Nhật yêu cầu chính phủ phải đưa ra hướng giải quyết.Nhiều chiến dịch từ cộng đồng kêu gọi bảo vệ môi trường được tổ chức rầm rộ. Cụ thể, nhiều dự án xây dựng các bãi chôn lấp như vịnh Isehaya năm 1997, đất thủy triều Fujimae năm 1998, sông Yoshino năm 1999 và nhiều dự án xây dựng công nghiệp bị bãi bỏ do sự phản đối của người dân.
Kết quả, năm 1999, Chính phủ Nhật đã sửa đổi chương trình hành động về phát triển biển được xây dựng năm 1953 - cơ chế quản lý vùng biển đầu tiên của Nhật. Bảo vệ môi trường cùng với khai thác sử dụng hợp lý bờ biển được đưa vào chương trình hành động mới, tầm quan trọng của quản lý vùng biển thân thiện với môi trường đã được nhận thức rõ hơn.
Trong chương trình hành động mới, các vùng đất cấm và các vùng biển cần được bảo vệ đã được đề cập đến. Các nhà quy hoạch phát triển tổ chức nhiều cuộc họp lắng nghe ý kiến của người dân trước khi phê duyệt các dự án tại các vùng biển cần được bảo vệ, thậm chí các phương tiện như ô tô, xe máy đều bị cấm lưu hành.
Thêm vào đó, Chính phủ Nhật cũng xác định vùng biển là tài sản chung của nhân loại truyền lại cho thế hệ sau như là tài sản quý giá. Các nhà chức trách địa phương phải xây dựng kế hoạch tổng hợp trong việc sử dụng vùng biển đi đôi với việc bảo vệ môi trường tự nhiên dựa trên ý kiến của các bên liên quan.
Nhờ đó, Nhật Bản đã hạn chế được nhiều công trình xây dựng ven biển, cải thiện dần được hệ sinh thái vùng biển.
Đề xuất với Đà Nẵng
Các nghiên cứu điển hình của Nhật về quản lý biển trước những năm 1990 đã chỉ ra rằng, quản lý biển tập trung vào các hoạt động kinh tế sẽ gây ra nhiều vấn đề phức tạp về môi trường nên không đạt được sự phát triển bền vững.
Phát triển bền vững là “phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm phương hại đến nhu cầu sử dụng của các thế hệ tương lai” (Ủy ban quốc tế về môi trường và phát triển). Có ba lĩnh vực trong khái niệm về phát triển bền vững, đó là: (i) lĩnh vực môi trường liên quan đến việc bảo vệ môi trường tự nhiên và hạn chế ô nhiễm môi trường; (ii) lĩnh vực kinh tế gắn liền với giải quyết đói nghèo ở các nước đang phát triển, giải quyết tình trạng thất nghiệp và tái sinh nền kinh tế; (iii) lĩnh vực xã hội nhằm giảm nhẹ định kiến về giới, chủng tộc, độ tuổi, trình độ học vấn, nâng cao phát triển xã hội, hướng đến sự thịnh vượng giàu có. Việc kết hợp đồng nhất ba lĩnh vực trên là điều vô cùng quan trọng cho sự phát triển bền vững.
Thành phố Đà Nẵng có lợi thế để phát triển thành thành phố bền vững. Đà Nẵng có bờ biển trải dài 90 ki lô mét, nổi tiếng với nhiều bãi biển đẹp. Để kết hợp quản lý kinh tế biển và bảo vệ môi trường thì chính quyền thành phố cần phải xây dựng các nguyên tắc về quản lý biển. Bên cạnh việc xây dựng các chỉ số để đánh giá quá trình phát triển, chính sách phải làm sao để người dân thấy rằng, để Đà Nẵng phát triển bền vững không chỉ là trách nhiệm của chính quyền địa phương mà còn là của cả cộng đồng và mỗi công dân.
Tại Hội thảo về quản lý và phát triển bền vững kinh tế biển Đà Nẵng ý kiến của nhiều chuyên gia cho rằng, với vị trí địa lý đắc địa (trung tâm của cả miền Trung) Đà Nẵng cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao để hỗ trợ cho các ngành kinh tế biển khác. Đà Nẵng không nên vội vã trong phát triển kinh tế biển, cẩn thận với vấn đề ô nhiễm môi trường. Trước mắt Đà Nẵng cần tập trung vào du lịch biển cao cấp và dịch vụ cảng biển phục vụ cho tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây. Khi các ngành khoa học kỹ thuật phát triển mới có thể tính đến chuyện phát triển kinh tế biển toàn diện hơn.
(Miki Yoshizumi)