Thành phố Đà Nẵng, từ khi trực thuộc trung ương năm 1997, diện tích đất nông nghiệp, diện tích mặt nuôi trông thủy sản mỗi ngày một giảm, song hành cùng quá trình đô thị hóa, đơn vị xã ít đi trong khi đơn vị phường lại tăng lên. Mặc dù lĩnh vực nông nghiệp ( bao gồm thủy sản-nông lâm) xếp sau lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, nhưng không vì thế mà lĩnh vực này không được thành phố quan tâm.
Hơn 10 năm qua, một số chủ trương chính sách liên quan đến với khu vực nông nghiệp-nông thôn thể hiện qua việc đầu tư cơ sở hạ tầng bằng 100% vốn ngân sách của thành phố cho các công trình điện, trường học, nhà trẻ - mẫu giáo, Trạm y tế xã, chợ, khu vui chơi giải trí, đường giao thông liên xã trở lên, các công trình thuỷ lợi, hệ thống đê kè ven sông, biển và các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn tập trung v.v…
Bên cạnh đó, đã có nhiều công trình có sự đóng góp của nông dân theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm, như: đường giao thông nội thôn, kiệt hẻm, … Đối với các công trình loại này, nhà nước hỗ trợ xi măng, các khoản còn lại nhân dân tự đóng góp. Ngoài ra, hằng năm, ngân sách dành một khoản kinh phí đầu tư hỗ trợ nông dân sản xuất thông qua các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, hỗ trợ giống mới... giúp nông dân phòng trừ sâu bệnh ở cây trồng; dịch bệnh ở gia súc, gia cầm,…
Kết quả từ những chính sách đó, nông thôn Đà Nẵng đã có nhiều đổi mới, 100% hộ dân đều có điện, hầu hết các tuyến đường giao thông liên xã, liên thôn, nội thôn, kiệt hẻm đã được bê tông, nước sinh hoạt nông thôn ở các khu dân cư đã được giải quyết. Có thể nói, về kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản đáp ứng yêu cầu đời sống và sản xuất của nhân dân nông thôn.
Tuy nhiên, trong bức tranh màu sáng về nông nghiệp nông thôn Đà Nẵng, đối với những ai quan tâm đến lĩnh vực này, vẫn còn những băn khoăn, trăn trở. Vấn đề lớn hiện nay là, thu nhập của người nông dân so với các tầng lớp dân cư khác còn khá thấp, nguyên nhân là do qui mô ruộng đất canh tác của hộ nông dân nhỏ, khoảng 2.000 - 3.000m2/hộ, các yếu tố đầu vào ngày một gia tăng, trong khi đó giá nông sản không tăng, thậm chí giảm. Nếu tính cả yếu tố rủi ro thì nông dân miền Trung, trong đó có nông dân Đà Nẵng, luôn gặp khó khăn trong sản xuất. Dẫn chứng gần đây nhất, cơn bão số 6 năm 2006, hầu hết các vườn cây ăn quả (hơn 10 năm tuổi) của nông dân đã bị thiệt hại 100%, hàng ngàn hecta rừng trồng (3 - 4 năm tuổi) bị thiệt hại. Dịch bệnh ở gia súc, gia cầm…, luôn có nguy cơ tái diễn làm cho nông dân khốn đốn trong sản xuất và tiêu thụ.
Với những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, phần lớn nông dân không muốn đầu tư chiều sâu để phát triển sản xuất lâu dài, họ có tâm lý mong nhà nước thu hồi đất để có khoản kinh phí chuyển nghề. Để giảm bớt những khó khăn cho người nông dân, bắt đầu từ năm 2007, thành phố đã miễn thu thủy lợi phí cho các hộ nông dân. Điều đó giúp cho bà con nông dân giảm đi đáng kể chi phí để dành tập trung vào chi phí sản xuất, lo toan cuộc sống… Tuy nhiên, vẫn còn những gánh nặng không nhỏ mà người nông dân còn phải đóng góp. Có thể liệt kê ra ở đây các khoản sau: Qũy phòng chống lụt bão 5.000 đ/hộ/năm; Qũy bảo trợ trẻ em 5.000 đ/hộ/năm; Qũy an ninh quốc phòng 12.000 đ/hộ/năm; Qũy đền ơn đáp nghĩa 10.000 đ/hộ/năm; Qũy xây dựng giao thông 30.000 đ/hộ/năm và các đóng góp khác là 10.000 đ/hộ/năm, tổng cộng các khoản là 72.000 đ/hộ/năm. Ngoài ra, một số xã có thu quỹ khuyến nông với mức 5.000đ/hộ/năm.
Nhìn chung, những khoản đóng góp nêu trên đối với nông dân là không lớn. Tuy nhiên, nên giảm tỷ lệ đóng góp của nông dân xây dựng đường giao thông (xây dựng giao thông nội đồng). Bên cạnh đó, để gắn trách nhiệm của dân, của cộng đồng trong việc bảo vệ, tu bổ công trình trong quá trình sử dụng, không nên bỏ khoản đóng góp này mà chỉ giảm tỷ lệ đóng góp của nông dân, tăng tỷ lệ đầu tư của Nhà nước.
Để giúp bà con nông dân ổn định định cuộc sống và yên tâm tập trung vào sản xuất theo hướng hiệu quả, phù hợp với quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa, bên cạnh sự cố gắng của bản thân người nông dân, cần đẩy mạnh củng cố và sắp xếp lại các Ban quản lý HTX nông nghiệp. Đặc biệt, Nhà nước từ trung ương đến địa phương cần quan tâm tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn, trong đó, bức thiết nhất là giải quyết nước; hỗ trợ đầu tư phát triển công nghiệp hoá trong nông nghiệp, phát triển làng nghề trong nông thôn; hỗ trợ đào tạo học vấn, học nghề cho con em nông dân; hỗ trợ vốn vay với lãi suất ưu đãi hoặc không có lãi suất để nông dân vay mua trang thiết bị nông nghiệp, đầu tư sản xuất; chuyển dần kinh tế hộ sang kinh tế trang trại … Ngoài ra, cần quan tâm tăng suất đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn để giúp các địa phương giải quyết cơ bản về kết cấu hạ tầng nông thôn, hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp, nhất là thuỷ lợi, đê điều, giao thông đồng ruộng, cấp nước sinh hoạt nông thôn. Xây dựng phát triển các khu công nghiệp trong khu vực nông thôn. Và sau cùng là nên nghiên cứu miễn học phí ở cấp học phổ thông, giảm một phần học phí ở cấp Đại học, Cao đẳng và dạy nghề cho con em nông dân.
Thiết nghĩ làm được như vậy, khoảng cách giữa nông trôn và thành thị sẽ được rút ngắn, người nông dân có cơ hội để nâng cao đời sống về mọi mặt, mặt trái của cơ chế thị, của quá trình đô thị hóa sẽ được hạn chế, diện mạo nông thôn sẽ ngày thêm khởi sắc, góp phần củng cố niềm tin của bà con nông dân vào Đảng và chế độ ta.
(Dân Hùng)