Đà Nẵng có 66.000 ha đất lâm nghiệp, chiếm gần 53% diện tích nhiên của thành phố, trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 37.065 ha và rừng trồng là 15.800ha. Với quy mô như vậy, rừng Đà Nẵng có vai trò rất quan trọng đối với thành phố, rừng kết hợp với biển, sông, đồng ruộng, tạo ra bức tranh màu xanh phong phú và hữu ích cho thành phố, là “lá phổi xanh vĩ đại”, là hàng rào bảo vệ đáng tin cậy cho thành phố trước những tác động bất lợi của thiên nhiên. Dưới góc độ kinh tế-xã hội, diện tích rừng trồng, rừng kinh tế của thành phố tuy so với các tỉnh thành bạn còn “khiêm tốn” nhưng cũng là nguồn nguyên liệu chủ yếu cho công nghệ chế biến bột giấy, hàng mộc dân dụng thay cho gỗ rừng tự nhiên, là đối tượng để phát triển trang trại lâm nghiệp, giải quyết việc làm tăng thu nhập cho nhân dân các xã trung du miền núi và các chủ trang trại.
31 năm qua, kể từ sau ngày quê hương giải phóng, chính quyền và nhân dân Đà Nẵng đã có nhiều quyết tâm, cố gắng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội, bảo tồn đa dạng sinh học và giữ gìn cảnh quan thiên nhiên. Nhiều dự án, chương trình lâm nghiệp có hiệu quả như Chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc, Chương trình PAM, Chương trình 327, Chương trình trồng mới 5 triệu hecta rừng v.v…đã góp phần cho rừng Đà Nẵng thêm xanh và bền vững. Bên cạnh đó, để bảo vệ và phát triển rừng theo hướng bền vững, từ năm 2000 thành phố đã thực hiện chủ trương “đóng cửa rừng tự nhiên”, diện tích rừng trồng không ngừng tăng, tỷ lệ sống đối với rừng trồng mới đạt cao với nhiều chủng loại cây, nhiều mô hình hỗn giao thích hợp…Tỷ lệ che phủ của rừng đạt 42%, cao hơn bình quân chung cả nước, là một minh chứng sinh động cho sự phát triển của rừng Đà Nẵng.
Để tiếp tục phát huy những thành quả đạt được, bước vào kế hoạch chung phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010 của thành phố, trong lĩnh vực lâm nghiệp, cần triển khai thực hiện Đề án phát triển và bảo vệ rừng Đà Nẵng đến năm 2010 đã được UBND thành phố phê duyệt, trong đó chú trọng tăng cường công tác quản lý Nhà nước về rừng bằng các biện pháp nâng cao nhận thức và trách nhiệm của từng cấp. Gắn nhiệm vụ quản lý Nhà nước về rừng với công tác bảo vệ rừng trên địa bàn, có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, chủ rừng, lực lượng Kiểm lâm và các lực lượng khác.Chủ động xây dựng và triển khai phương án phòng cháy chữa cháy rừng, không để xảy ra cháy lớn về rừng.
Đi vào cụ thể, công tác phát triển rừng cần quan tâm thông qua việc mở rộng diện tích rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, đảm bảo số lượng đi đôi với chất lượng. Tích cực tranh thủ các dự án quốc tế về phát triển rừng, phát triển cộng đồng và bảo tồn đa dạng sinh học. Chú trọng đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách cho công tác khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và trồng rừng mới bằng các loài cây bản địa có xuất xứ từ rừng tự nhiên của thành phố. Từng bước chuyển hoá rừng trồng các loài Keo, Bạch đàn tại rừng đặc dụng để thay thế bằng các loài cây bản địa thích nghi.
Về rừng kinh tế, khuyến khích trồng rừng sản xuất tập trung từ nhiều nguồn vốn khác nhau bằng các loài cây mọc nhanh nhân giống vô tính, đồng thời tận dụng các diện tích đất vườn nhà để trồng cây phân tán, vừa có tác dụng cải tạo đất, vừa cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, tăng cường trồng thử nghiệm các loài lâm sản có giá trị khác như: tre, nứa, song mây...
Trong hoạt động khai thác,chủ yếu là khai thác gỗ rừng trồng, gỗ vườn và các lâm sản khác nhằm phục vụ nhu cầu nguyên liệu chế biến. Đối với rừng tự nhiên, chỉ tiến hành khai thác tận thu khi được sự cho phép của cấp thẩm quyền, theo đúng quy trình và quy định quản lý 3 loại rừng. Hoạt động chế biến gỗ và lâm sản, cần quan tâm đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ các cơ sở chế biến hiện có nhằm tăng năng suất, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Khuyến khích phát triển sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, nhất là các cơ sở ngoài quốc doanh. Tận dụng lợi thế so sánh của thành phố, tăng cường thu hút nguồn nguyên liệu lâm sản từ các tỉnh và nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu chế biến, từ đó xây dựng Đà Nẵng thành một trong những trung tâm chế biến, thương mại xuất nhập khẩu gỗ lâm sản lớn của miền Trung và cả nước.
Để đạt được những những mục tiêu trên, công tác xây dựng kết cấu hạ tầng có một vai trò quan trọng, trong đó vấn đề đầu tư kết cấu hạ tầng lâm nghiệp, thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng, phát triển giống cây lâm nghiệp có chất lượng, năng suất cao, kết hợp phát triển kinh tế với nhu cầu dân sinh trên địa bàn, nhất là khu vực trung du miền núi phải được đặt lên hàng đầu. Song hành với quá trình đó, cần chú trọng xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản tập trung.
Muốn rừng Đà Nẵng phát triển bền vững từ nay đến năm 2010 thì nó phải đạt yêu cầu là tổng thể của một chuỗi liên hoàn khép kín: môi trường - kinh tế - xã hội. Thông qua việc triển khai có hiệu quả chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, để phấn đấu đến năm 2010 tăng độ che phủ lên 50,6%, góp phần đảm bảo an ninh môi trường. Giảm thiểu đáng kể các tác hại của thiên nhiên, tăng khả năng sinh thuỷ của rừng và bảo tồn đa dạng sinh học. Về kinh tế, sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống đồi núi trọc bằng việc ưu tiên trồng rừng sản xuất theo hướng sử dụng cây con nhân giống vô tính, đa dạng hoá các loài cây trồng có giá trị kinh tế cao để cung cấp nguyên liệu cho công nghệ chế biến gỗ, lâm sản và tạo điều kiện phát triển kinh tế trang trại. Về xã hội, đầu tư kết cấu hạ tầng cải thiện bộ mặt nông thôn miền núi, thu hút lao động và giải quyết việc làm cho nhân dân các xã phường gần khu công nghiệp tập trung. Từ đó góp phần ổn định chính trị, xã hội và an ninh, quốc phòng, đặc biệt là các xã miền núi của thành phố.
Giải pháp thực hiện trước hết là công tác quy hoạch, phải tiến hành rà soát lại quy họach 3 loại rừng theo hướng quy hoạch ổn định từng loại rừng một cách lâu dài, bền vững. Từ đó tiến hành quy hoạch chi tiết lâm nghiệp đến cấp quận, huyện, xã phường. Quy hoạch mạng lưới kinh doanh, mua bán sản phẩm gỗ và lâm sản trên địa bàn thành phố. Bên cạnh đó cần tăng cường các giải pháp về quản lý nhà nước và công tác bảo vệ rừng, công tác phát triển rừng, giải pháp về chính sách, về vốn...
Cuối cùng để đạt được mục tiêu phải có sự thể hiện vai trò chủ đạo của các cơ quan chuyên môn nhất là Sở Thuỷ sản-Nông lâm, Chi cục kiểm lâm và sự phối hợp của cơ quan ban ngành liên quan và nhất là sự phối hợp của chính quyền và nhân dân các địa phương có rừng cũng như của các chủ rừng, các doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm sản. Và quan trọng là, đi đôi với chiến lược phát triển đó, là một đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, kiểm lâm toàn tâm toàn ý với sự nghiệp phát triển rừng, cùng với đội ngũ cán bộ marketting, nghiên cứu thị trường có trình độ, công nhân có tay nghề cao...
Đó là nhân tố quan trọng và cần thiết để góp phần tô đẹp cho “bức tranh rừng” Đà Nẵng thêm khởi sắc và vững bền.
(Dân Hùng)